Trong cuộc sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, việc xây dựng, phát triển lực lượng an ninh được Đảng đặc biệt coi trọng nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quán triệt chủ trương của Đảng, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam đã có một hành trình hoạt động vẻ vang, và có những đóng góp to lớn, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Chủ trương của Đảng về công tác an ninh miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Trong những năm 1954-1959, khi nhân dân miền Bắc đang tập trung khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, thì ở miền Nam, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức xây dựng lực lượng ngụy quân, bộ máy ngụy quyền và thành lập các cơ quan tình báo, mật thám, gián điệp, công an, cảnh sát để điều tra, đàn áp các cơ sở và lực lượng cách mạng, bắt bớ, giam cầm, tra tấn những người kháng chiến cũ nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng.
Để đấu tranh chống tình báo, gián điệp của địch, Đảng đã tập trung lực lượng điệp báo cho chiến trường miền Nam; đồng thời, chỉ đạo Đảng bộ miền Nam bố trí cán bộ và cơ sở điệp báo của công an và quân báo ở lại, chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thực hiện chủ trương của Đảng, Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã chỉ đạo chi viện hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và vũ khí, phương tiện chiến đấu để tăng cường lực lượng an ninh miền Nam ngày càng lớn mạnh. Đồng chí Viễn Chi được cử phụ trách
công tác phái khiển (tình báo) vào miền Nam, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ về công tác Công an ở miền Nam và công tác phái khiển, (những quy định thông tin liên lạc giữa hai miền sau Hiệp định Geneva). Đây là bước chuẩn bị đầu tiên cho việc khôi phục tổ chức của lực lượng Ban An ninh miền Trung ương Cục miền Nam sau này.
Tháng 3/1957, Bộ Công an tiến hành Hội nghị Tổ chức cán bộ lần thứ nhất. Thực hiện kết luận của Hội nghị, Bộ có chỉ thị về việc lựa chọn và đào tạo cán bộ cho Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam; trong đó, lưu ý việc phải có kế hoạch bồi dưỡng, sắp xếp, sử dụng, mạnh dạn cất nhắc những cán bộ công tác tốt trong số cán bộ Công an miền Nam tập kết hoặc số cán bộ miền Nam tập kết đang công tác ở ngành khác. Chủ trương này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tích cực chủ động trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, kịp thời cung cấp đội ngũ cán bộ cho lực lượng cua Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam.
Sau một thời gian chuẩn bị, đến năm 1959, Bộ Công an đã thống nhất với Ban thống nhất Trung ương chọn và cử 5 cán bộ Công an đầu tiên đi cùng Đoàn cán bộ chi viện của Đảng vào Khu V làm công tác bảo vệ[1].
Sau thời gian chuẩn bị kỹ càng, ngày 19/5/1960, Đoàn cán bộ Công an chi viện đợt đầu tiên (đợt 1) đã lên đường vào Nam, đến các tỉnh Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đoàn gồm 30 đồng chí thuộc các lực lượng bảo vệ chính trị, quản giáo, cảnh sát. Trong số này, nhiều đồng chí đã được giao các trọng trách nòng cốt của lực lượng an ninh khu, tỉnh, lập nhiều chiến công xuất sắc, có đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Tuy số lượng không nhiều, nhưng đoàn cán bộ đầu tiên của lực lượng công an tăng cường cho miền Nam là những “hạt giống đỏ” vô cùng quý báu, kịp thời bổ sung cho các đơn vị, địa phương tham gia chỉ đạo phong trào “Đồng khởi” trên khắp các địa phương ở miền Nam.
Cách mạng càng phát triển, yêu cầu của công tác bảo vệ an ninh, trật tự và tiến công địch đặt ra ngày càng cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, tháng 7/1960, Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 01 thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy và Ban An ninh các cấp[2]. Sau đó, các tỉnh, thành phố và cấp huyện lần lượt ra đời các Ban Bảo vệ an ninh của cấp mình; phát huy tác dụng trong công tác trừ gian, diệt ác, vận động quần chúng phòng gian, bảo mật và nổi dậy đánh địch. Đó cũng là những lực lượng nòng cốt để xây dựng lực lượng an ninh miền Nam sau này.
Đầu năm 1961, thực hiện chủ trương của Bộ Công an, Thường vụ Trung ương Cục quyết định thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam gồm có các Tiểu ban: Văn phòng (B1); Bảo vệ chính trị (B2); Bảo vệ nội bộ, Cảnh vệ (B3); Trung đội bảo vệ vũ trang; Bộ phận sản xuất; Tổ cơ yếu và điện đài làm nhiệm vụ giữ liên lạc của Ban An ninh Trung ương Cục với Bộ Công an.
Tháng 8/1962, đồng chí Phan Văn Đáng, Thường vụ Trung ương Cục được cử làm Trưởng ban Ban An ninh Trung ương Cục, đồng chí Cao Đăng Chiếm làm Phó trưởng ban, các uỷ viên có đồng chí Nguyễn Văn Côn, Huỳnh Việt Thắng, Huỳnh Anh và Thái Doãn Mẫn.

Cán bộ chiến sĩ Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, năm 1971 (Ảnh tư liệu)
Trước đó Ban Bảo vệ an ninh các khu cũng được thành lập: giữa năm 1961, Ban Bảo vệ an ninh Khu miền Đông Nam Bộ (T1) được thành lập theo Chỉ thị số 01 của Xứ uỷ Nam Bộ; trong năm 1961 thành lập Ban Bảo vệ an ninh miền Tây Nam Bộ (T3) và An ninh khu Sài Gòn- Gia Định (T4); đến giữa năm 1962 Ban Bảo vệ an ninh khu X (gồm Bình Long, Phước Long, Quảng Đức) và Ban Bảo vệ an ninh khu VIII (Trung Nam Bộ - T2) lần lượt ra đời. Hệ thống tổ chức của lực lượng an ninh được hình thành thống nhất từ Trung ương Cục đến các khu, tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục, các Khu uỷ, Tỉnh uỷ và Ban An ninh Trung ương cục miền Nam.
Ngày 4/8/1961, quán triệt quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Thường vụ Trung ương Cục đã ra Chỉ thị số 06 và sau đó là Chỉ thị số 16 (30/5/1962), trong đó quy định rõ về tiêu chuẩn chung của cán bộ an ninh là: Tuyệt đối trung thành, chiến đấu dũng cảm liên tục; lý lịch trong sạch; thành phần cơ bản, không tham ô hủ hoá; cán bộ phụ trách phải là đảng viên, nhân viên có thể là đoàn viên thanh niên lao động hoặc nòng cốt, quần chúng tốt.
Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, ngày 15/12/1967, Ban Thường vụ Trung ương Cục đã ra Chỉ thị số 32/CT về Nhiệm vụ và phương hướng công tác an ninh[3]. Chỉ thị nêu rõ: Hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn và các vùng xung yếu, phối hợp với các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng đẩy mạnh trừ gian, diệt ác, hạ uy thế của địch, tiến lên tiêu diệt các cơ quan đầu não, các cơ quan tình báo của Mỹ - ngụy, góp phần đánh sụp ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, phần lớn trinh sát vũ trang, cơ sở điệp báo và an ninh đô thị bị lộ, bị bắt hàng loạt. Số cán bộ an ninh hoạt động hợp pháp trong vùng địch bị lộ phải bật đất, chuyển vùng, thay đổi chỗ ở hoặc ra vùng giải phóng...
Trước tình hình đó, tháng 7/1969, Trung ương Cục miền Nam tiến hành Hội nghị về công tác an ninh. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “Tiếp tục phát động phong trào phòng gian bảo mật, đánh bại mọi âm mưu và hành động do thám, gián điệp, nội gián, chiến tranh tâm lý, chiêu hàng của địch. Tích cực bảo vệ nội bộ Đảng, chính quyền và đoàn thể cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân”[4].
Để tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh cơ sở, phục vụ cho việc phá kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy, ngày 16/10/1970, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị số 6-CT/BA-70 thành lập Hội đồng bảo vệ an ninh xã ấp.
Hoạt động và đóng góp của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Năm 1965, Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đồng thời tăng cường hàng loạt các chương trình bình định, tìm diệt, các kế hoạch tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý, “chiêu hồi”; sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn xảo quyệt đánh phá phong trào cách mạng miền Nam.
Đặc biệt sau Tết Mậu Thân (1968), địch đẩy mạnh việc triển khai chiến dịch Phượng Hoàng, âm mưu “tiêu diệt hạ tầng cộng sản ở đô thị, vùng ven”, tiến hành các cuộc hành quân càn quét tìm diệt, bình định rất quyết liệt; đẩy mạnh kế hoạch hậu chiến, cài gián điệp, chỉ điểm vào nội bộ ta...

Lãnh đạo Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam qua các thời kỳ (Ảnh Bảo tàng CAND)
Lực lượng an ninh đứng trước những khó khăn, thách thức mới hết sức nghiêm trọng. Năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam và Bộ Công an phối hợp chỉ đạo kịp thời thành lập Hội đồng bảo vệ an ninh xã, ấp; chỉ thị triển khai công tác an ninh ở những vùng mới giải phóng và tiến hành tổng kết quá trình đấu tranh chống phản cách mạng ở miền Nam.
Cuối những năm 60, cao điểm của cuộc kháng chiến, đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, trực tiếp phụ trách công tác an ninh, tập trung vào những vấn đề lớn, quan trọng, nhất là ở miền Nam[5].
Để tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của lực lượng an ninh Miền (B2), đồng chí thống nhất với Thường vụ Trung ương Cục cử 1 đồng chí Thường vụ phụ trách công tác an ninh; ở cấp cơ sở đều phải có một ủy viên cấp ủy phụ trách công tác an ninh. Đồng thời, đồng chí kiến nghị với Trung ương, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an về công tác xây dựng lực lượng và đội ngũ cán bộ an ninh. Trung ương đồng ý và đáp ứng yêu cầu của đồng chí đó là: chi viện cán bộ và điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho các Ban An ninh của miền Nam. Ngay sau đó, đồng chí đã chỉ đạo xây dựng nhiều kế hoạch động viên, điều động, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp của Công an miền Bắc, để liên tục tăng cường chi viện cho các Ban An ninh ở miền Nam.
Từ năm 1962 đến ngày 30/4/1975, đã có nhiều đợt, nhiều cấp, nhiều loại cán bộ nghiệp vụ khác nhau, cùng với các phương tiện, vật chất - kỹ thuật cần thiết được huy động chi viện, cung cấp đáp ứng kịp thời yêu cầu của lực lượng Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam[6].
Năm 1972, nhằm phục vụ cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, các lực lượng an ninh đã đẩy mạnh các mặt công tác nghiệp vụ, thu thập tình hình hoạt động, kế hoạch bình định, tình báo, gián điệp, bố phòng của địch, nhất là chuẩn bị lực lượng, phương tiện phục vụ tổng tiến công và nổi dậy tiếp quản vùng mới giải phóng và nơi cất giữ vũ khí, tài liệu, trang bị kỹ thuật, nơi giam giữ đối tượng bị bắt. Bên cạnh đó, quần chúng đã tích cực đấu tranh chống địch càn quét, lấn chiếm và cung cấp cho cơ quan an ninh hàng nghìn tin có giá trị để có kế hoạch phòng ngừa và tiến công địch, bảo vệ khu căn cứ.
Từ đầu năm 1974, cục diện chiến trường miền Nam có nhiều chuyển biến, cuộc đấu tranh của quân và dân ta chống địch bình định, lấn chiếm giành thắng lợi lớn. Chính quyền Sài Gòn suy yếu cả về chính trị và quân sự. Lực lượng vũ trang giải phóng chuyển mạnh sang thế chủ động tiến công, đánh nhiều trận tiêu diệt quân chủ lực ngụy, đẩy lùi các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng.
Với khí thế sôi sục cách mạng, lực lượng an ninh miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang bám sát các mục tiêu, đối tượng, đánh hàng trăm trận ngay trong hang ổ của địch, góp phần phá rã bộ máy kìm kẹp của chúng, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, tiến tới đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, được sự chi viện của Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục đã huy động hơn 13.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia tiến công địch trên nhiều hướng, nhiều mũi, đánh thẳng vào các căn cứ, sào huyệt của địch; tổ chức công tác tuyên truyền, phát động quần chúng nổi dậy, trừng trị, xử lý các đối tượng gián điệp, tình báo, chiêu hồi, đầu sỏ ác ôn, chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công, truy kích số đối tượng phản cách mạng lẩn trốn; tiếp quản, thu hồi, bảo vệ tuyệt đối an toàn hồ sơ, tài liệu, phương tiện của địch; giải thoát các đồng chí cán bộ cách mạng bị địch bắt, giam cầm.
Nhìn lại thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, lực lượng an ninh nói chung, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam nói riêng luôn phải đương đầu với cơ quan tình báo, gián điệp nhà nghề của Mỹ; các cơ quan tình báo, mật vụ của chính quyền Sài Gòn và các thế lực phản cách mạng, phản động nguy hiểm. Nhận thức đúng tính chất, điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, phức tạp đó, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của công tác xây dựng và phát triển lực lượng an ninh, củng cố tổ chức Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, nắm chắc tình hình địch từ sớm, từ xa, đối phó có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, khắc phục thiếu sót, hạn chế thiệt của ta... cùng toàn quân, toàn dân tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
[1] 05 cán bộ gồm: Đ/c Hoàng Tuấn Nhã, quê Quảng Nam; Trần Ngọc Hồ, quê Quảng Ngãi; Nguyễn Hoà quê Bình Định; Trần Phú Nhuận và Nguyễn Tây Sơn quê Bình Thuận; Xem Lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân- Biên niên sự kiện, tập II (1954-1975), tr.137-138.
[2] Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, GS,TS Trịnh Nhu (Chủ biên): Lịch sử Biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.255-256.
[3] Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Ký hiệu: P42(65-55).
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.30, tr.382-383.
[5] Bộ Công an: Lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân- Biên niên sự kiện, tập II (1954-1975), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.508.
[6]Trong đó có thời điểm chi viện với cường độ cao, điển hình như năm 1965: có 597 đồng chí; riêng đầu năm 1975 có hơn 1.000 có cán bộ, chiến sĩ được chi viện vào chiến trường miền Nam.
