Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đặc biệt là công nghệ số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi các quan niệm truyền thống về “chủ quyền”. Nếu như trước đây chủ quyền gắn với biên giới lãnh thổ của quốc gia trong không gian thực thì ngày nay khái niệm chủ quyền mở rộng thêm phạm vi trong không gian ảo

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đặc biệt là công nghệ số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi các quan niệm truyền thống về “chủ quyền”. Nếu như trước đây chủ quyền gắn với biên giới lãnh thổ của quốc gia trong không gian thực thì ngày nay khái niệm chủ quyền mở rộng thêm phạm vi trong không gian ảo với sự xuất hiện ngày càng phổ biến của các thuật ngữ chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu, chủ quyền không gian mạng… Cùng với đó là những thách thức an ninh mạng ngày càng gia tăng trong môi trường kết nối toàn cầu ngày một chặt chẽ khiến cho công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia đứng trước nhiều vấn đề mới trong đó có yêu cầu bảo vệ chủ quyền số quốc gia.

1. Khái niệm “chủ quyền số”

Theo quan niệm của Chính phủ Canada: “Chủ quyền số của đề cập đến năng lực của Chính phủ Canada trong việc thực thi quyền tự chủ đối với các tài sản và dịch vụ số của mình, bảo đảm rằng Chính phủ Canada có thể quản lý và bảo vệ các hệ thống số, dữ liệu và thông tin bất kể công nghệ được phát triển, lưu trữ hay hỗ trợ ở đâu”[i]. Khái niệm này kế thừa các nghiên cứu trước đây về chủ quyền dữ liệu (data sovereignty), đồng thời mở rộng phạm vi từ việc tập trung vào lưu trữ dữ liệu và thẩm quyền pháp lý sang bao gồm cả khả năng chống chịu trong vận hành, tính toàn vẹn của hệ thống và quyền kiểm soát mang tính thể chế.

Trong Tuyên bố về chủ quyền số của Liên minh châu Âu (EU), EU định nghĩa “chủ quyền số là khả năng của một quốc gia thành viên trong việc điều hành hạ tầng số, dữ liệu và công nghệ của mình”[ii]. Khái niệm này bao hàm năng lực của các cá nhân, doanh nghiệp và các thiết chế tại châu Âu có thể hành động một cách độc lập trong không gian số, cho phép đưa ra các quyết định tự chủ liên quan đến việc sử dụng, quản trị và phát triển các hệ thống số mà không phụ thuộc quá mức vào các tác nhân bên ngoài, nhằm bảo vệ các nền dân chủ và các giá trị của châu Âu.

Từ các quan niệm này, có thể thấy chủ quyền số quốc gia đề cập đến khả năng của một quốc gia/chính phủ trong việc thực thi quyền tự chủ đối với các tài sản và dịch vụ số của mình nhằm quản lý và bảo vệ các hệ thống số, dữ liệu và thông tin. Một số nội dung cơ bản của chủ quyền số quốc gia bao gồm:

(1) Chủ quyền đối với hạ tầng số: là khả năng kiểm soát, quản lý và phát triển các hệ thống kỹ thuật số cốt lõi phục vụ việc vận hành hệ thống kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia. Các hạ tầng số cốt lõi bao gồm: mạng viễn thông (công nghệ 5G/6G), trung tâm dữ liệu, hệ thống điện toán đám mây, cáp quang biển và các nền tảng kết nối số. Trong bối cảnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc và kết nối toàn cầu mạnh mẽ thì chủ quyền hạ tầng số không đồng nghĩa với việc tự cung tự cấp hoàn toàn mà nhấn mạnh vào khả năng giảm thiểu rủi ro phục thuộc chiến lược vào các nhà cung cấp nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm và liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia. Đồng thời chủ quyền hạ tầng số còn gắn với khả năng đảm bảo tính liên tục, an toàn và khả năng phục hồi của hệ thống trước các cú sốc bên ngoài như tấn công mạng, gián đoạn chuỗi cung ứng hay cạnh tranh địa - chính trị.

(2) Chủ quyền dữ liệu: là khả năng của quốc gia trong việc kiểm soát toàn bộ vòng đời của dữ liệu (từ thu thập, lưu trữ, xử lý đến chia sẻ) phù hợp với hệ thống pháp luật và lợi ích quốc gia. Nội dung này nhấn mạnh vào khía cạnh quyền tài phán của nhà nước đối với dữ liệu phát sinh trong lãnh thổ, đồng thời hạn chế sự truy cập và khai thác trái phép từ các tác nhân bên ngoài. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh thì dữ liệu hay tài nguyên số trở thành nguồn lực phát triển chiến lược. Do đó, chủ quyền dữ liệu không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ an ninh và quyền riêng tư mà còn nằm ở khả năng khai thác tài nguyên số hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

(3) Chủ quyền công nghệ: phản ánh năng lực của quốc gia trong việc làm chủ các công nghệ lõi và giảm thiểu sự phụ thuộc vào bên ngoài. Chủ quyền công nghệ không chỉ là khả năng phát triển các công nghệ nội sinh mà còn bao gồm khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gia tăng, chủ quyền công nghệ đang trở thành công cụ quan trọng không chỉ giúp các quốc gia đảm bảo tự chủ, an ninh mà còn khẳng định vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng công nghệ.

(4) Chủ quyền pháp lý: thể hiện khả năng của quốc gia trong việc xây dựng và thực thi các quy định điều chỉnh không gian số theo lợi ích và giá trị của mình, bao gồm: ban hành luật về dữ liệu, an ninh mạng và quản lý nền tảng số; xác lập tiêu chuẩn và nguyên tắc trong môi trường số. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây là công cụ giúp các quốc gia quản lý, điều hành các tài sản và dịch vụ số và giảm thiểu sự chi phối từ các tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia.

(5) Chủ quyền an ninh mạng: phản ánh khả năng của quốc gia trong việc bảo vệ hệ thống thông tin và hạ tầng số trước các mối đe dọa từ không gian mạng. Chủ quyền an ninh mạng bao gồm: khả năng phòng ngừa, phát hiện và ứng phó với các cuộc tấn công mạng cũng như duy trì tính liên tục và an toàn của các hệ thống thiết yếu.

(6) Chủ quyền kinh tế số: là khả năng của quốc gia trong việc kiểm soát và điều hành, quản lý các hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số như: thương mại điện tử, dữ liệu và nền tảng công nghệ.

2. Giải pháp bảo vệ chủ quyền số quốc gia trong kỷ nguyên công nghệ

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ trong kỷ nguyên số nhất là các công nghệ lõi như hiện nay cùng với những thách thức an ninh mạng ngày càng gia tăng và kinh tế số ngày càng phát triển, để bảo vệ chủ quyền số quốc gia của mình, trong những năm tới Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, về thể chế, các cơ quan pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, an ninh mạng và quản trị nền tảng số theo hướng đồng bộ, minh bạch và có khả năng thực thi cao, qua đó đảm bảo quyền tài phán đối với dữ liệu và không gian mạng. Thông qua đó, Nhà nước có thể kiểm soát hiệu quả các luồng dữ liệu xuyên biên giới và hoạt động của các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực thực thi của các cơ quan quản lý trong việc giám sát các nền tảng xuyên biên giới. Kiện toàn tổ chức và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; xây dựng cơ chế điều phối và hiệp đồng ứng phó an ninh mạng giữa các cơ quan chuyên trách, các đơn vị chủ quản và các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ, các cơ quan, tổ chức và người dân.

Thứ hai, về công nghệ và hạ tầng công nghệ, cần đẩy mạnh phát triển tiềm lực công nghệ nội sinh với ưu tiên dành cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và an ninh mạng. Đồng thời, cần tập trung đầu tư xây dựng hệ sinh thái hạ tầng số an toàn, có khả năng phục hồi cao nhằm giảm sự phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài. Ngày nay, khoa học - công nghệ đã trở thành một trong những nhân tố then chốt quyết định vị thế quốc gia trong khi Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển với tốc độ rất nhanh. Điều này đã khiến cho cạnh tranh công nghệ trên thế giới ngày càng gay gắt, do đó, tự chủ về công nghệ là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đối với Việt Nam, để giảm thiểu việc phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài thì trong những năm tới Nhà nước cần có cơ chế, chính sách khuyến các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; khuyến khích đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách ưu tiên, đặc thù để xây dựng, phát triển các tập đoàn công nghệ trong nước mạnh trong các lĩnh vực công nghệ lõi.

Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Tự chủ về công nghệ không có nghĩa là “tự cung, tự cấp” hay phát triển công nghệ một cách biệt lập, Trong bối cảnh hợp tác, liên kết và phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng cùng với đó là kết nối toàn cầu ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì chúng ta cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học - công nghệ để có thể hấp thụ các công nghệ tiên tiến trên thế giới, từ đó từng bước học hỏi, hoàn thiện và tiến tới xây dựng, phát triển các công nghệ nội sinh. Tích cực thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ toàn cầu, nhất là các tập đoàn phát triển các công nghệ lõi để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đồng thời tạo cơ hội cho Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Việc làm này không chỉ hỗ trợ phát triển nội lực khoa học - công nghệ mà còn giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền khoa học - công nghệ thế giới.

Thứ tư, tập trung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình chuyển đổi số quốc gia. Nhân tố con người luôn đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa các chiến lược phát triển trong đó có chiến lược phát triển khoa học - công nghệ. Do đó, Đảng và Nhà nước cần có nhiều cơ chế, chính sách để đào tạo và phát triển nhân lực khoa học - công nghệ. Để làm được điều đó, cần phải gắn kết hoạt động giáo dục, đào tạo với chiến lược phát triển khoa học - công nghệ quốc gia để xây dựng đội ngũ các nhà khoa học giỏi, đồng thời gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ để rút ngắn quá trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn cuộc sống.

 

[i] Digital sovereignty: A framework to improve digital readiness of Government of Canada, Cổng thông tin điện tử Government of Canada, truy cập ngày 11/4/2026, tại: https://www.canada.ca/en/government/system/digital-government/digital-government-innovations/cloud-services/digital-sovereignty/digital-sovereignty-framework-improve-digital-readiness.html

[ii] Declaration for European Digital Sovereignty, truy cập ngày 12/4/2026, tại:  https://assets.innovazione.gov.it/1763560898-declaration_on_digital_sovereignty.pdf