Bị bắn rơi ngày từ lần đầu tiên lái máy bay ném bom, bắn phá miền Bắc, Trung úy Hải quân Alvarez là phi công Mỹ đầu tiên bị bắt và bắt đầu những trải nghiệm 3.113 ngày sống trên miền Bắc cho đến khi được trao trả sau Hiệp định Paris
Hoa Kỳ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất
Hoa Kỳ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất trong bối cảnh cục diện chiến trường hai miền Nam - Bắc Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ.
Ở miền Nam, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng bên bờ vực phá sản. Từ năm 1961 đến đầu năm 1965, Mỹ triển khai thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, đã bị quân và dân miền Nam đánh bại. Liên tiếp các chiến thắng giòn giã, tiêu biểu là Ấp Bắc, Bình Giã, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn, công cụ cốt lõi của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ sụp đổ dây chuyền.
Để cứu vãn tình thế, Mỹ buộc phải xem xét thay đổi chiến lược, chủ trương chuyển sang tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, đưa quân Mỹ và đồng minh trực tiếp vào tham chiến, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân.
Miền Bắc lúc này là hậu phương lớn, không ngừng gia tăng sức người, sức của chi viện tiền tuyến lớn miền Nam thông qua tuyến đường chiến lược Trường Sơn và đường biển với những “con tàu không số” huyền thoại.
Được sự ủng hộ, chi viện mạnh mẽ của miền Bắc, quân và dân miền Nam càng đánh càng thắng, duy trì và phát triển thế tiến công, đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đến phá sản hoàn toàn.
Nhận thức rõ nguồn gốc thắng lợi và sức mạnh của cách mạng miền Nam, Hoa Kỳ chủ trương đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Và sự kiện hải quân nhân dân Việt Nam tiến công tàu Mỹ trên hải phận quốc tế, tức sự kiện Vịnh Bắc Bộ, được tạo ra, lấy cớ cho Quốc hội Mỹ cho phép Tổng thống Jhonson đáp trả mạnh mẽ hơn nữa cái gọi là “thái độ thù địch của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
Từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, không quân Mỹ đẩy mạnh ném bom, bắn phá miền Bắc và đầu năm 1965, Hoa Kỳ vin vào cớ trả đũa cuộc tiến công của Quân giải phóng vào căn cứ Mỹ ở Pleiku ngày 07/2/1965 để châm ngòi cho chiến dịch không kích quy mô lớn và dữ đội đối với miền Bắc, Chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder).
Các mục tiêu chính của chiến tranh phá hoại là phá hủy tiềm lực kinh tế, quốc phòng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc cho miền Nam, và từ bên ngoài vào miền Bắc, làm nhụt quyết tâm chống Mỹ của nhân dân hai miền Nam - Bắc, củng cố tinh thần chính quyền và quân đội Sài Gòn đang hoang mang với những thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

Hoa Kỳ mở chiến dịch "Mũi Tên Xuyên", tháng 8/1964 (Ảnh tư liệu)
Chiến dịch “Mũi Tên Xuyên” và phi công Mỹ đầu tiên “thăm” Hỏa Lò, Hà Nội
Sự kiện phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi và bắt sống tại miền Bắc vào tháng 8/1964 gắn liền với Sự kiện Vịnh Bắc Bộ và Chiến dịch “Mũi Tên Xuyên” (Pierce Arrow), bước khởi đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam
Nửa cuối năm 1964, trước nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, chính quyền Mỹ tìm cách mở rộng chiến tranh ra miền Bắc với những mục tiêu đầy tham vọng như đã trình bày ở trên.
Từ đêm 31/7 đến đầu tháng 8/1964, Mỹ cho tàu khu trục USS Maddox tiến sâu vào hải phận miền Bắc để trinh sát và khiêu khích. Ngày 02/8/1964, các tàu phóng lôi của Hải quân Nhân dân Việt Nam đã anh dũng đánh đuổi tàu Maddox ra khỏi vùng biển miền Bắc.
Chính quyền Mỹ vu cáo Hải quân Việt Nam “cố ý tiến công tàu chiến Mỹ trên hải phận quốc tế”, dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lừa dối dư luận quốc tế và dư luận Mỹ, lấy cớ leo thang quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Ngày 5/8/1964, Hải quân Mỹ bất ngờ mở Chiến dịch “Mũi Tên Xuyên”, huy động hàng trăm lượt máy bay chiến đấu từ các tàu sân bay như USS Constellation và USS Ticonderoga, ồ ạt tiến công ném bom, bắn phá các căn cứ hải quân, kho tàng và mục tiêu ven biển miền Bắc, kéo dài từ Sông Gianh (Quảng Bình) đến Bãi Cháy (Quảng Ninh).
Nhờ tinh thần cảnh giác và sự chuẩn bị từ trước, Bộ đội Hải quân phối hợp cùng Quân chủng Phòng không - Không quân, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân tự vệ đã chủ động giáng trả quyết liệt. Quân và dân ta đã bắn rơi 08 máy bay Mỹ và bắn bị thương nhiều chiếc khác ngay trong ngày đầu giao chiến.
Quân và dân miền Bắc xác định: việc bắt sống phi công Mỹ có ý nghĩa quan trọng về quân sự và đặc biệt là về chính trị. Chính vì thế, trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, bắt sống phi công trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, được phát động rộng rãi trong toàn quân, toàn dân miền Bắc.
Ném bom miền Bắc trong những ngày đầu, chủ yếu Mỹ sử dụng lực lượng hải quân với các máy bay xuất phát từ các tàu sân bay.
Trung úy Hải quân Everett Alvarez, phi công thuộc Phi đội VA-144, xuất kích từ tàu sân bay USS Constellation, điều khiển chiếc máy bay cường kích A-4C Skyhawk.
Trong đợt không kích vào khu vực Cửa Lục, Hòn Gai, Quảng Ninh, chiều 5/8/1964, chiếc máy bay do Alvarez điều khiển đã trúng hỏa lực phòng không của quân dân Quảng Ninh và bốc cháy.
Alvarez nhảy dù xuống vùng biển thuộc khu vực Cửa Mối, Quảng Ninh và ngay lập tức bị lực lượng cơ yếu, quân dân địa phương phối hợp vây bắt sống đưa vào bờ.
Everett Alvarez Jr. trở thành phi công Mỹ đầu tiên bị bắt sống trong khi tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.
Sự kiện ngày 5/8/1964 mở đầu cho truyền thống “Đánh thắng trận đầu” của Hải quân và Phòng không – Không quân miền Bắc, khẳng định quyết tâm và khả năng đánh thắng không quân hiện đại của Mỹ.
Trong cuốn hồi ký Chained Eagle (tạm dịch: Đại bàng bị xích), phi công Hải quân Hoa Kỳ Everett Alvarez đã ghi lại chi tiết thời khắc sinh tử khi máy bay bị bắn hạ và quá trình bị bắt giữ tại vùng biển Quảng Ninh ngày 05/8/1964.
Chiều 05/8/1964, Alvarez điều khiển chiếc cường kích Douglas A-4C Skyhawk xuất phát từ tàu sân bay USS Constellation để thực hiện cuộc không kích vào căn cứ hải quân tại bến sông Cửa Lục (Hòn Gai, Quảng Ninh) trong Chiến dịch “Mũi Tên Xuyên”.
Alvarez mô tả bầu trời Hòn Gai lúc đó “phủ kín bởi mạng lưới hỏa lực phòng không dày đặc từ dưới đất và các tàu hải quân bắn lên”. Chiếc A-4C của ông trúng đạn bốc cháy, mất kiểm soát, buộc ông phải bấm nút phóng ghế nhảy dù khẩn cấp.
Nhảy dù xuống vùng biển thuộc vịnh Hạ Long, khu vực Cửa Lục, Alvarez rơi vào tình thế cực kỳ nguy hiểm. Bộ đồ bay nặng nề cùng sóng biển mạnh khiến ông chới với, sặc nước và đứng trước nguy cơ chết đuối ngay khi vừa rời khỏi chiếc máy bay bốc cháy rơi xuống biển.
Giữa lúc đang vật lộn với ranh giới sinh tử, một chiếc thuyền của ngư dân địa phương, trên thuyền có chở tổ chiến sĩ cơ yếu Cô Tô đi ngang qua, đã chèo đến gần.
Những người trên thuyền đã nhanh chóng vươn tay ra túm lấy Alvarez, kéo ông lên khỏi mặt nước biển sâu để cứu ông thoát khỏi cảnh chết đuối.
Sau khi đưa Alvarez lên thuyền, họ tiến hành tước bỏ trang bị, trói ông tạm vào cột buồm để bảo đảm an toàn và chuyển giao cho tàu hải quân Quảng Ninh đưa vào bờ.
Trong hồi ký, Alvarez bày tỏ sự xúc động sâu sắc trước bàn tay giang ra cứu giúp của những người dân chài Việt Nam giữa thời khắc giao tranh khốc liệt. Đối với ông, đó là lần “vượt qua cửa tử” thứ hai trong cùng một ngày.
![]()
Trung úy phi công Hải quân Alvarez bị bắt ngày 05/8/1964 tại Quảng Ninh (Ảnh tư liệu: Công Vượng)
Tù binh phi công bị cầm tù dài thứ hai của Quân đội Hoa Kỳ và nỗ lực hòa giải
Trung úy Hải quân Everett Alvarez là phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi và giam giữ tại miền Bắc Việt Nam, đồng thời là tù binh quân sự chịu thời gian cầm tù dài thứ hai trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ, chỉ sau Đại tá Lục quân Floyd James Thompson.
Đại tá James Thompson bị quân và dân ta bắn rơi ngày 26/3/1964 trên chiếc máy bay trinh sát L-19 (O-1 Bird Dog) trên bầu trời Quảng Trị, sau đó bị giam giữ tại các căn cứ ở vùng rừng núi miền Nam và Lào, đến năm 1967 được đưa ra miền Bắc. Kể từ khi bị bắt đến khi được trao trả, James Thompson đã trải qua 3.278 ngày bị giam giữ, chỉ thiếu 9 ngày nữa là tròn 9 năm.
Sau khi bị bắt, Alvarez bị áp giải về Hà Nội và chịu thời gian giam giữ kéo dài 8 năm 7 tháng (tổng cộng 3.113 ngày) tại Nhà tù Hỏa Lò cùng một số trại giam khác. Trong gần một năm đầu tiên, ông là phi công Mỹ duy nhất bị cầm tù tại đây.
Ngày 12/02/1973, Alvarez được trao trả cho Chính phủ Hoa Kỳ tại Hà Nội trong đợt đầu tiên của Chiến dịch Homecoming sau khi Hiệp định Paris được ký kết.
Sau khi trở về Mỹ, ông tiếp tục học tập, nhận bằng Thạc sĩ Phân tích Hệ thống và Tiến sĩ Luật. Ông giải ngũ năm 1980 với cấp bậc Đại tá. Dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, ông từng giữ chức Phó Giám đốc Peace Corps và Phó Quản trị viên Cơ quan Đặc trách Cựu chiến binh (VA).
Alvarez viết cuốn hồi ký nổi tiếng Chained Eagle, ghi lại chi tiết quãng thời gian là tù binh tại Việt Nam.
Tháng 3/1993, ông trở lại Việt Nam tham gia dự án phim hòa giải và tìm cách dò hỏi tin tức về những ngư dân đã cứu mình trên biển Hạ Long năm xưa. Dù cuộc tìm kiếm không thành do thời gian trôi qua quá lâu, hành trình này đã trở thành một biểu tượng cho tinh thần gạt bỏ quá khứ, hướng tới hòa giải và câu chuyện này vẫn trở thành một ký ức nhân văn đẹp đẽ giữa lòng chiến tranh.
Chiếc mũ của phi công Hải quân Alvarez hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Chỉ có điều, tên viên phi công này được bảo tàng ghi chú không chính xác.
Everett Alvarez không chỉ là một nhân chứng lịch sử đặc biệt của chiến tranh Việt Nam mà cuộc đời ông sau chiến tranh còn gắn liền với nhiều nỗ lực hàn gắn quan hệ hai nước.
