Ngày 13/8/2026 kỷ niệm 100 năm ngày sinh lãnh tụ Cuba Fidel Castro. Nhân dịp này, chúng tôi giới thiệu bài viết của ông René González Barrios, Giám đốc Trung tâm Fidel Castro Ruz nhân dịp chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam. Đầu đề bài viết do chúng tôi đặt
Tháng 10/1989, tại thành phố New York, José Martí đã cho xuất bản số cuối cùng của tạp chí La Edad de Oro (Tuổi vàng). Trong một bài viết mang tên “Cuộc dạo chơi trên đất nước của người An Nam”, người anh hùng Dân tộc của Cuba đã ngợi ca lòng dũng cảm và anh hùng của một dân tộc cao quý, bất khuất - một dân tộc đã nhiều lần đánh bại các thế lực xâm lược ngoại bang hùng mạnh.
Ngày 19/5/1890, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, và đúng năm năm sau, cũng vào ngày 19/5, José Martí ngã xuống trong chiến đấu. Lịch sử, như một sự sắp đặt đầy ý nghĩa, đã kết nối hai dân tộc tiêu biểu cho ý chí quật cường và tinh thần anh hùng trong cuộc đấu tranh chống lại các đế quốc hùng mạnh.
Đối với Fidel Castro, một người am hiểu sâu sắc và say mê lịch sử thế giới, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 của Việt Nam không chỉ là một sự kiện quân sự, mà còn là một biểu tượng mang tầm vóc thời đại. Hình tượng và tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao đối với ông.
Ngày từ những ngày đầu non trẻ của nền ngoại giao cách mạng, Cuba đã có một quyết định mang tính lịch sử: thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 02/12/1960. Cuba trở thành quốc gia đầu tiên ở Tây bán cầu làm điều này, vươn bàn tay hữu nghị để hiện thực hóa đoạn kết sắc sắc với dân tộc đã trải qua nhiều đau thương nhưng vẫn anh dũng, kiên cường - một dân tộc từng đánh bại các cuộc can thiệp quân sự của Nhật Bản và Pháp, đồng thời đang kiên định đối đầu với Hoa Kỳ.
Ngày 17/02/1961, Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba chính thức được khánh thành. Thấu hiểu những khó khăn mà nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt, theo đề xuất của Fidel, toàn bộ chi phí hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao này do Chính phủ Cuba đảm nhận.
Ngày sau đó, các hoạt động hợp tác và trao đổi đoàn giữa hai nước nhanh chóng được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Cuba mở rộng vòng tay đón nhiều thanh niên Việt Nam sang học tập, những người sau đó đã hấp thụ tinh thần của cách mạng Cuba và trở thành cầu nối văn hóa giữa hai dân tộc. Theo sáng kiến của Fidel, một đoàn sinh viên Việt Nam đầu tiên đượcc ử sang Cuba học tiếng Tây Ban Nha. Chỉ trong thời gian ngắn, họ đã trở thành những “sứ giả văn hóa”, góp phần phá vỡ sự phong tỏa về văn hóa và thông tin mà Việt Nam phải đối mặt trong bối cảnh chiến tranh.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đón nhận sự hiện diện đầy nghĩa tình của các chuyên gia Cuba, từ bác sĩ, giáo viên, kỹ sư xây dựng đến nông dân và quân nhân. Họ không chỉ mang đến sự hỗ trợ thiết thực, mà còn học hỏi từ kinh nghiệm chiến đấu kiên cường của một dân tộc đứng vững trước cuộc chiến tranh khốc liệt do Hoa Kỳ tiến hành. Cuba đã coi sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là sự nghiệp cách mạng của chính mình; vì vậy, Cuba không ngừng lên án các hành động leo thang chiến tranh, đồng thời thể hiện sự đoàn kết toàn diện với Việt Nam trên cả bình diện trong nước và quốc tế.
Ngày 25/9/1963, tại La Habana, Ủy ban Cuba Đoàn kết với miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và trở thành tổ chức Đoàn kết với miền Nam Việt Nam đầu tiên trên thế giới, do nữ anh hùng Moncada Melba Hernández làm Chủ tịch.
Đến tháng 12/1965, Cuba tiếp tục khẳng định lập trường kiên định của mình khi công nhận mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tiếp nhận phi đoàn thường trực tại La Habana với chế độ ngoại giao đầy đủ, đồng thời tiếp tục đảm nhận toàn bộ chỉ phí hoạt động của bộ phận đoàn này. Đó là giai đoạn nước Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hủy diệt quy mô lớn tại Việt Nam. Trong bối cảnh khốc liệt ấy, các chuyên gia Cuba thuộc nhiều lĩnh vực đã trực tiếp có mặt tại Việt Nam, góp phần cứu chữa con người, hỗ trợ tái thiết phát triển.
Ngày 02/01/1966, tại Quảng trường Cách mạng Ở La Habana, trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 7 năm thắng lợi của cách mạng Cuba, và trước các đại biểu tham dự hội nghị Đoàn kết với châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh lần thứ nhất (hay còn gọi là Hội nghị Tricontinental), Fidel Castro đã đưa ra một tuyên bố mang tính biểu tượng sâu sắc: “Đối với nhân dân Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng không chỉ trao đi đường của mình, mà còn trao cả máu của mình - thứ còn quý giá hơn nhiều so với đường! Và điều đó, nhân dân Việt Nam và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam anh hùng hiểu rõ ràng”[1].
Cũng trong năm đó, ngày 29/10, Tổng thống Osvaldo Dorticos và Bộ trưởng Bộ lực lượng Vũ trang cách mạng khi ấy, Tư lệnh Raúl Castro Ruz, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao đầu tiên của Cuba thăm Việt Nam. Chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa đặc biệt, mà còn tạo điều kiện để hai nhà lãnh đạo trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời chuyển tải Người sự trọng sắc của lãnh tụ Cách mạng Cuba Fidel Castro.

Trung tâm Fidel Casto Ruz làm việc tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh, ngày 18/5/2026
Đó cũng là thời kỳ mà tinh thần đoàn kết quốc tế của Cuba lan tỏa mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại châu Phi và các khu vực đang diễn ra phong trào giải phóng dân tộc. Chính trong bối cảnh ấy, năm 1966, khi đang chuẩn bị lên đường tới Bolivia, Ernesto Che Guevara đã viết “Thư gửi Hội nghị Tricontinental”, được công bố lần đầu vào ngày 16/4/1967. Trong văn kiện này, ông nêu lên khẩu hiệu nổi tiếng: “Hãy tạo ra hai, ba… nhiều Việt Nam hơn nữa”.
Bày tỏ sự ngưỡng mộ sâu sắc trước cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ và đồng minh, Che Guevara đã viết: “Thật vĩ đại biết bao dân tộc ấy! Biết bao lòng kiên cường và dũng cảm ! Và cuộc đấu tranh ấy chữa đựng một bài học lớn lao cho toàn thế giới.”
Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Cuba chìm trong niềm tiếc thương sâu sắc và chân thành. Nỗi đau ấy đã được Fidel Castro bày tỏ trong thông điệp gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam[2]: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc về lớp người đặc biệt - những con người mà sự ra đi của họ trở thành hạt giống của sự sống, là nguồn cảm hứng bất tận; và vì thế, Người sẽ tiếp tục dẫn dắt nhân dân Việt Nam tiến tới thắng lợi hoàn toàn và cuối cùng - một thắng lợi đang ở rất gần”.
Sau đó, trong bối cảnh thế giới đang biến động, và vẫn còn nguyên nỗi xúc động trước sự ra đi của Tổng thống Chile Salvador Allende, Tổng tư lệnh Fidel Castro đã thực hiện chuyến thăm Việt Nam lần thứ nhất, từ ngày 12 đến ngày 17/9/1973. Sau đó, Tổng tư lệnh còn tới thăm Việt Nam trong hai dịp nữa. Dù chưa từng có cơ hội gặp trực tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Fidel vẫn nhận thức sâu sắc được giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng thế giới, một giá trị vẫn còn được giữ gìn nguyên vẹn bất chấp sự ra đi của Người. Giữa hai nhà lãnh đạo tồn tại sự tương đồng sâu sắc về lý tưởng, nguyên tắc và hệ giá trị.
Giữa con người của “Bác Hồ kính yêu” - cách gọi thân thương của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng tư lệnh Fidel Castro có nhiều điểm tương đồng nổi bật: lối sống giản dị, khiêm nhường; sự gắn bó mật thiết với nhân dân - nguồn cảm hứng mạnh mẽ tinh thần và động lực hành động; ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan, khát vọng đoàn kết và lập trường kiên định chống chủ nghĩa đế quốc.
Ngay trong ngày 12/9/1973, trong một bài phát biểu công khai, Fidel đã khẳng định tâm vóc lịch sử của chuyến thăm này: “Cần phải ghi nhớ những hoàn cảnh khó khăn và phức tạp mà cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ khởi đầu. Và để khắc phục được những khó khăn đó, không thể không nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đáng kính. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa lịch sử to lớn cũng như những hệ quả của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, đồng thời nhấn mạnh rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chính là kim chỉ nam vững vàng cho con đường cần phải đi để giải quyết vấn đề của các dân tộc bị áp bức dưới ách thống trị. Về tinh thần sắc bén, đồng chí Hồ Chí Minh đã gắn kết cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc với việc bảo vệ quyền lợi của quần chúng bị áp bức bởi các thế lực bóc lột và phong kiến. Người chỉ ra rằng con đường dân tộc là liên hội tự tính dân yêu nước của các dân tộc với khát vọng giành phong khóa bức xé gói. Trên nền tảng tưởng của Người xác lập hai trục cốt cán bản: giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Đồng thời, Người cũng khẳng định rằng các quốc gia bị kìm hãm bởi chủ nghĩa thực dân hoàn toàn có khả năng rút ngắn tiến trình lịch sử, lựa chọn con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó tránh được những tốn thất, hy sinh và hệ luy do mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản gây ra.”
Fidel tiếp tục nhấn mạnh: “Dân tộc Việt Nam, tuy là một dân tộc nhỏ bé và còn nhiều khó khăn, nhưng đã làm nên kỳ tích khi đánh bại hai trong số những thế lực phản động hùng mạnh nhất của thế giới hiện đại. Đó chính là tấm gương lớn lao mà Việt Nam đã trao cho nhân loại. Không chỉ vậy, đồng chí Hồ Chí Minh còn thể hiện một tầm nhìn chiến lược vĩ đại, sáng suốt về sức mạnh của phong trào cách mạng quốc tế. Ngay từ những ngày đầu, Người đã nhận thức rõ rằng cách mạng Việt Nam không tôn tại tách biệt, mà là một bộ phận không thể tách rời của phong trào cách mạng toàn cầu. Chính vì vậy, Người đã biết cần phải dựa vào sức mạnh của các đoàn kết quốc tế và phong trào cách mạng quốc tế, bởi lẽ, trong thế giới ngày nay, sức mạnh dân tộc đơn lẻ nào có thể chiến thắng những thế lực đế quốc hùng mạnh nếu thiếu đi sự hậu thuẫn ấy”
Trong khuôn khổ chuyến thăm lịch sử đầu tiên này, cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Fidel đã trực tiếp tới Quảng Trị, vùng đất vừa được giải phóng ở miền Nam Việt Nam. Tại đồi 241, trước lá cờ Việt Nam tung bay[3], ông đã kêu gọi các chiến sĩ tiếp tục phát huy tinh thần chiến đấu anh dũng trong cuộc kháng chiến vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Suốt hành trình, Fidel tận mắt chứng kiến những hậu quả tàn phá nặng nề do chiến tranh gây ra. Tuy nhiên, vượt lên trên những mất mát và tàn phá, ông bày tỏ một niềm tin vững chắc vào tương lai thịnh vượng của một dân tộc cần cù, kiên cường và giàu nghị lực như Việt Nam.
Trong chuyến thăm đầu tiên ấy, Fidel cũng đã đến thăm căn nhà sàn giản dị, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sinh sống và làm việc. Chính tại không gian đậm dấu ấn ấy, sự kính trọng và ngưỡng mộ của ông đối với vị lãnh tụ Việt Nam càng trở nên sâu sắc hơn. Tại đây, Fidel xúc động chia sẻ: “Chúng tôi đến mảnh đất anh hùng này với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với nhân dân Việt Nam và chúng tôi ra về với sự ngưỡng mộ còn lớn lao hơn nữa. Chúng tôi được tiếp thêm động lực từ những chiến thắng và tấm gương phi thường của các bạn. Chúng tôi vô cùng biết ơn trước sự đón tiếp nồng hậu và tình cảm chân thành mà các bạn đã dành cho chúng tôi. Điều duy nhất khiến chúng tôi day dứt là đã không thể đến Việt Nam trước ngày 03/9/1969[4], để có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người mà chúng tôi vô cùng kính trọng, khi người còn sống. Tuy nhiên, nỗi tiếc nuối ấy phần nào được bù đắp khi chúng tôi được tận mắt chứng kiến và hiểu rõ hơn về nhân dân Việt Nam, thấy được trong chính họ sự phản chiếu của di sản mà Người để lại: tư tưởng, giáo dục, tấm gương đạo đức, tinh thần anh hùng và lối sống giản dị"
Kết thúc chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam, Fidel Castro đã công bố một khoản viện trợ khiêm tốn, nhưng giàu ý nghĩa của Cuba nhằm hỗ trợ công cuộc tái thiết miền Bắc Việt Nam. Gói hỗ trợ này bao gồm một khách sạn, một bệnh viện 500 giường, 10 trang trại bò sữa, một cơ sở chăn nuôi gia cầm và một tuyến đường dài 42 km[5].

Thủ tướng Fidel Casto thăm Quảng Trị, tháng 9/1973
Trong suốt những năm tháng nhân dân Việt Nam kiên cường đấu tranh chống lại cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, tại Cuba đã xuất hiện ngày càng nhiều cơ quan, đơn vị và tổ chức mang tên Việt Nam, Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Trỗi… những địa danh lịch sử và con người tiêu biểu của đất nước Việt Nam anh em. Năm 1969, một trong những đội sản xuất mía năng suất cao nhất Cuba đã vinh dự mang tên Hồ Chí Minh, như một biểu tượng truyền cảm hứng. Cùng thời điểm, một trường trung học cơ sở nội trú cũng được Fidel trực tiếp khánh thành và đặt theo tên Bác.
Đó là những năm tháng mà khẩu hiệu “Cuba - Việt Nam đoàn kết nhất định thắng!” đã trở thành lời hiệu triệu quen thuộc trong đời sống của nhân dân Cuba. Hàng trăm chuyên gia và công dân Cuba đã lên đường sang Việt Nam tham gia xây dựng, sản xuất, giảng dạy và góp phần bảo vệ chủ quyền của đất nước anh em đồng thời hỗ trợ công cuộc phát triển tại Việt Nam
Tháng 3/1974, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm chính thức Cuba. Trong lễ đón trọng thể tại Quảng trường Cách mạng, Fidel Castro đã khẳng định tầm vóc lịch sử và ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đối với toàn nhân loại: “Chúng ta có thể khẳng định rằng nhân dân Việt Nam không chỉ chiến đấu vì chính mình, mà còn chiến đấu vì tất cả các dân tộc trên thế giới, vì sự nghiệp giải phóng của nhân loại, vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Những con người đã ngã xuống nơi đó cũng là đã hy sinh vì chúng ta. Và nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ và biết ơn những đóng góp ấy của Việt Nam”.
Tháng 12/1995, Fidel trở lại thăm Việt Nam trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, đặc biệt sau sự sụp đổ của mô hình “chủ nghĩa xã hội hiện thực” tại Liên Xô và Đông Âu. Chính trong hoàn cảnh đó, sự ngưỡng mộ của ông đối với dân tộc Việt Nam càng được củng cố và sâu sắc hơn. Tại đây, ông nhấn mạnh: “Chúng ta cũng không thể quên những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng của thế giới: Hãy đoàn kết! Hãy giữ vững sự đoàn kết!”
Đồng thời, Fidel cũng bày tỏ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh hẳn đã vô cùng đau xót nếu chứng kiến sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, nếu thấy Liên Xô sụp đổ. Đó là một cú sốc hết sức nặng nề, một tổn thất lớn đối với thế giới và đối với tất cả các dân tộc, trong đó có Việt Nam và Cuba.”
Trong chuyến thăm này, Fidel Castro bày tỏ sự khâm phục sâu sắc trước tinh thần lao động cần cù và sự công hiến không ngừng của nhân dân Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những ấn tượng ấy được ông thể hiện rõ trong bức thư gửi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam:
“Đồng chí Đỗ Mười thân mến !
Tôi rời Việt Nam với tình cảm và sự ngưỡng mộ còn sâu sắc hơn bao giờ hết. Nhưng nỗ lực mà các đồng chí đang kiên trì thực hiện khiến tôi hết sức khâm phục. những bước tiến mà các đồng chí đã đạt được là rõ ràng và đáng ghi nhận. Dù phía trước còn nhiều thách thức to lớn, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng các đồng chí nhất định sẽ đi tới thắng lợi. Tôi xin chúc mừng nhân dân Việt Nam và tinh thần đổi mới, không giáo điều; và sự táo bạo và lòng dũng cảm. Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đang bộc lộ những khiếm khuyết sâu sắc và trở thành nguồn gốc của nhiều vấn đề toàn cầu, Tôi rời đất nước của các đồng chí với niềm tin càng vững chắc hơn vào con đường xã hội chủ nghĩa và vai trò của Đảng lực lượng duy nhất có thể bảo đảm tính định hướng trật tự và hiệu quả trong một thế giới đầy biến động. Xin cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước sự đón tiếp trọng thị mà đoàn đại biểu Cuba đã nhận được, cũng như tình cảm nồng hậu mà cá nhân tôi vinh dự được dành tặng. Tôi mong sớm được đón đồng chí tại Cuba để trực tiếp thể hiện tình hữu nghị và sự trân trọng của chúng tôi. Tiến lên ! Việt Nam anh hùng ! Thắng lợi một lần nữa đang chờ đợi các đồng chí !
Thân ái
Fidel Castro
Ngày 12 tháng 12 năm 1995”
Đó chính là một Việt Nam phồn vinh, một Việt Nam đúng như khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng ấp ủ.
Tháng 02/2003, Fidel Castro thực hiện chuyến thăm cuối cùng tới Việt Nam - mảnh đất mà đối với ông luôn là quê hương thứ hai, là điểm tựa tin cậy và gần gũi nhân dân Cuba. Trong dịp này, ông xúc động khẳng định:“[…] chúng tôi luôn cảm thấy ở Việt Nam như đang ở chính ngôi nhà của mình. Nếu chúng tôi phần nào xứng đáng với tình cảm nồng hậu và sự đón tiếp ấm áp mà Việt Nam luôn dành cho chúng tôi, thì điều đó bởi chính tại Cuba cũng tồn tại một tình cảm sâu sắc như vậy đối với Việt Nam và nhân dân Việt Nam”.
Mối quan hệ giữa hai dân tộc được hun đúc từ những trang sử đấu tranh tương đồng trong sự nghiệp giành và bảo vệ độc lập, chủ quyền; từ sự gặp gỡ và gắn bó từ vai trò lãnh đạo lịch sử: Hồ Chí Minh và Fidel Castro Ruz; cũng như từ vai trò lãnh đạo xuyên suốt của hai Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng cúa mỗi nước. Trên nền tảng lịch sử đó, cũng vởi quá trình trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, hai dân tộc tiếp tục đồng hành, chung tay kiến tạo một tương lai đầy triển vọng.
Trong bối cảnh mới của thời đại, tư tưởng của Hồ Chí Minh và Fidel Castro tiếp tục trở thành kim chỉ nam cho hành động, mang giá trị định hướng lâu dài cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu sắc và truyền cảm hứng cho nhân dân Cuba. José Martí là người sớm nhận ra điều đó, trong khi Che Guevara đã tôn vinh tâm gương Việt Nam như một biểu tượng của thời đại, còn Fidel đã dạy người dân Cuba biết yêu quí một dân tộc như chính dân tộc mình - một dân tộc mà vì họ, chúng tôi luôn sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình.
Chúng tôi kết thúc bài viết này bằng phát biểu của Fidel Castro Ruz tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/12/1995: “[…] lịch sử sẽ dành một vị trí danh dự cho tất cả những dân tộc trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn vẫn kiên định giữ vững các nguyên tắc của nghĩa xã hội, và trong hàng ngũ những dân tộc ấy, Việt Nam và Cuba sẽ luôn đứng bên nhau như hai anh em song sinh, không thể tách rời.”
[1] Thời điểm này, Đảng ta mang tên Đảng Lao động Việt Nam. Người Việt Nam thường chỉ biết đến phát biểu này một cách ngắn gọn “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Ngoài ra, nhiều người cũng lầm tưởng Fidel Castro nói câu này trong chuyến thăm Quảng Trị năm 1973. Thực ra, đây là lần duy nhất Fidel đưa ra thông điệp này.
[2] Đảng Lao động Việt Nam.
[3] Chính xác là cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
[4] Thời điểm này, ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố là ngày 03/9/1969.
[5] Tổng giá trị gói viện trợ này sau này được biết đến là 80 triệu USD.
