Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, tại địa bàn Tây Nguyên, đặc biệt là tỉnh Gia Lai - Kon Tum, chính quyền cách mạng phải đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Đảng bộ tỉnh xác định bảo đảm an ninh chính trị là nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết vấn đề FULRO trở thành yêu cầu cấp bách, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân
Hoạt động của FULRO và yêu cầu đặt ra đối với công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở Gia Lai - Kon Tum sau năm 1975
Được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các thế lực phản động nước ngoài, từ tháng 8/1976, lực lượng FULRO bắt đầu trỗi dậy và hoạt động ráo riết trở lại.
Phương thức hoạt động của chúng rất xảo quyệt: tiến hành móc nối chặt chẽ giữa những đối tượng đang trốn tránh, sống lén lút ngoài rừng sâu với các phần tử ẩn núp ngay trong lòng nhân dân; đồng thời, lôi kéo số đối tượng cải tạo trở về để lập các cơ sở ngầm, liên tục tấn công vào hệ thống chính trị cơ sở của ta.
Đặc biệt bước sang đầu thập niên 1980, sự chống phá của FULRO ngày càng mang tính chất hệ thống và leo thang nguy hiểm.
Năm 1978, lực lượng FULRO ẩn náu ngoài rừng có khoảng 207 tên, nhưng đến năm 1980 con số này đã tăng lên 310 tên. Đến năm 1981, lợi dụng tình hình biên giới Tây Nam diễn biến phức tạp, chúng tiến hành cấu kết với tàn quân Pôn Pốt và các nhóm phỉ ở Lào, gửi thư ra nước ngoài kêu gọi viện trợ, ủng hộ.
Đồng thời, FULRO triển khai "chiến dịch tổng động viên", dùng nhiều thủ đoạn cưỡng bức, lôi kéo thanh niên các buôn làng ra rừng, đưa số lượng quân ngoài rừng lên đến 400 tên. Chúng thiết lập các căn cứ trên đất Campuchia và Thái Lan để huấn luyện quân sự, chính trị rồi bí mật đưa trở lại tỉnh hoạt động.
Đến năm 1982, cơ cấu tổ chức bí mật của FULRO trên địa bàn tỉnh đã hình thành hai khung hành chính mang bí danh GR, lập ra các toán "tâm lý chiến" mang bí danh VI và các toán "du kích chiến" mang bí danh VISA[1].
Trong hai năm 1981 - 1982, chúng xây dựng tới hai khung quân khu và sáu khung tỉnh mật. Từ năm 1982 đến năm 1984, FULRO duy trì, củng cố toàn bộ bộ máy và mở rộng phạm vi hoạt động phá hoại tới 11 trong tổng số 13 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai - Kon Tum, gây mất ổn định nghiêm trọng trật tự an toàn xã hội và đe dọa trực tiếp an ninh chính trị.

Công an tỉnh Gia Lai - Kon Tum bàn phương án truy quét FULRO, năm 1984 (Ảnh tư liệu)
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh và công tác bố trí lực lượng giải quyết vấn đề FULRO
Nhận thức sâu sắc tính chất nguy hiểm, Đảng bộ tỉnh Gia Lai - Kon Tum đã quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về giải quyết vấn đề FULRO và Nghị quyết số 03- NQ/TW của Bộ Chính trị về chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Đảng bộ tỉnh xác định rõ, việc giải quyết FULRO phải là cuộc phát động quần chúng rộng khắp kết hợp chặt chẽ với các biện pháp vũ trang chuyên nghiệp.
Tháng 2/1977, dưới sự tham mưu của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum thành lập Ban 04. Đây là cơ quan chuyên trách giúp Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc công tác phát động quần chúng nhằm giải quyết vấn đề FULRO từ gốc rễ. Đồng thời, ở các huyện biên giới, quân và dân ta vừa phải trực tiếp chiến đấu bảo vệ biên giới chống lại cuộc chiến tranh của tập đoàn Pôn Pốt, vừa phải thực hiện nhiệm vụ chống FULRO. Tỉnh ủy chỉ đạo rõ: Nhiệm vụ của các huyện biên giới là chiến đấu chống địch bảo vệ biên giới là chính, kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh sản xuất.
Tháng 10/1978, nhằm tăng cường thực lực lãnh đạo tại các địa bàn xung yếu, Ban Tổ chức Tỉnh ủy tham mưu huy động 2 đợt điều động lớn với gần 100 cán bộ thuộc các ban, ngành cấp tỉnh cùng 12 cán bộ tổ chức, xây dựng Đảng của Trung ương. Lực lượng này chia thành 3 tổ chuyên trách tăng cường trực tiếp xuống 3 địa bàn trọng điểm: huyện Đăk Tô, thị xã Kon Tum và huyện Chư Păh.
Song song đó, các cơ quan cấp huyện, thị cũng tinh giản bộ máy, rút cán bộ đưa xuống bám làng, bám xã. Riêng các địa bàn Đăk Tô, Chư Prông, An Khê, thị xã Pleiku, Kon Plông, trong đợt đầu đã tăng cường cho cơ sở 115 cán bộ, thành lập 9 đội công tác hoạt động thường trực tại các xã và 2 đội công tác chuyên sâu tại 2 làng chiến lược thường xuyên có FULRO móc nối hoạt động.
Như vvậy, tính đến cuối năm 1978, hầu hết các huyện, thị xã đều có trên 1/2 số xã được bổ sung từ 1 đến 7 cán bộ điều động từ tuyến trên[2]. Nhiệm vụ cốt lõi của đội ngũ cán bộ tăng cường này được Tỉnh ủy giao phó rất toàn diện: ngoài việc trực tiếp tham gia đánh địch, tổ chức lãnh đạo sản xuất và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, cần đặc biệt chú ý khâu đào tạo, bồi dưỡng, kèm cặp cán bộ tại chỗ. Mục tiêu cốt yếu là nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán là người dân tộc thiểu số địa phương, phát triển thực lực cách mạng để trong một thời gian nhất định, xã có thể tự đảm nhiệm được nhiệm vụ an ninh, chính trị tại địa phương mà không phụ thuộc vào lực lượng tăng cường.
Tháng 10/1978, Trung ương và Tỉnh điều động gần 100 cán bộ tỉnh, 12 cán bộ Trung ương và 115 cán bộ huyện tăng cường cho Đăk Tô, Kon Tum, Chư Păh, Chư Prông, An Khê, Pleiku, Kon Plông; thành lập các đội công tác bám dân, bám làng.
Tháng 5/1985, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề huy động lực lượng gồm 452 cán bộ tinh nhuệ, trong đó có 7 Tỉnh ủy viên và Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; 25 Giám đốc và Phó Giám đốc các sở; 25 Trưởng, Phó phòng ban cấp tỉnh cùng 63 cán bộ, chiến sĩ công an tăng cường trực tiếp cho cơ sở[3].
Bước sang năm 1986, cuộc đấu tranh nhận được sự chi viện kịp thời từ Trung ương. Bộ Nội vụ tăng cường hơn 50 cán bộ, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm, đặc biệt đã điều động hẳn một Tiểu đoàn cơ động của Bộ gồm 350 cán bộ, chiến sĩ chốt giữ thường trực ở 9 trọng điểm phức tạp nhất. Lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội biên phòng tỉnh thường xuyên tổ chức bám sát các địa bàn, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an mở các đợt truy kích, bao vây địch ngoài rừng sâu, tạo chỗ dựa vững chắc cho công tác phát động quần chúng trong các buôn làng.
Chính quyền các huyện, thị xã đã sáng tạo tổ chức cuộc họp, nói chuyện tuyên truyền với các già làng, trưởng bản, những trí thức uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và cả số sĩ quan, binh lính FULRO cũ đã lầm đường lạc lối nay trở về làng làm ăn. Qua các cuộc tuyên truyền, ta đã giúp họ nhận thức sâu sắc bản chất của đối tượng cầm đầu FULRO. Khi Nhân dân đồng thuận, tin tưởng cách mạng, họ đã chủ động cung cấp thông tin, giúp lực lượng công an nắm rõ các thủ đoạn xảo quyệt và những nơi ẩn náu của các đối tượng để lập kế hoạch triệt phá chính xác.

Thị đội trưởng Kon Tum Thái Phước Hiệp trao súng cho lực lượng dân quân truy quét lực lượng FULRO trên địa bàn, năm 1978 (Ảnh tư liệu)
Một số kết quả và kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề FULRO ở Gia Lai - Kon Tum
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về chính trị, quân sự, an ninh và vận động quần chúng đã mang lại những kết quả quan trọng trong đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO tại Gia Lai - Kon Tum.
Giai đoạn 1981–1985, lực lượng chức năng đã loại khỏi vòng chiến đấu 596 đối tượng FULRO, làm thất bại âm mưu xây dựng căn cứ chiến lược ở khu vực ngã ba biên giới.
Sau đợt cao điểm năm 1986, ta bóc gỡ 26.804 cơ sở ngầm, xử lý 1.568 đối tượng cầm đầu, xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền ngầm gồm 45 khung cấp xã, 288 khung cấp thôn, 7 khung tiểu đoàn và nhiều căn cứ bí mật. Lực lượng vũ trang đánh 459 trận, tiêu diệt, bắt giữ, vận động hàng nghìn đối tượng FULRO ra trình diện, đồng thời thu giữ hơn 1.000 khẩu súng cùng nhiều phương tiện, tài liệu phục vụ hoạt động chống phá. Cơ quan an ninh cũng kịp thời phát hiện, triệt phá 19 tổ chức phản cách mạng với 1.847 đối tượng tham gia.
Song song với đấu tranh vũ trang, công tác bảo vệ Đảng và bảo vệ chính trị nội bộ được đặc biệt coi trọng. Tỉnh ủy đã triển khai rà soát, sàng lọc đội ngũ cán bộ, công nhân viên theo các chủ trương của Trung ương, phát hiện 2.693 trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị và kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những người không đủ tiêu chuẩn. Đồng thời, xử lý 132 cán bộ thôn, xã tiếp tay cho FULRO, trong đó có 45 đảng viên. Kết quả thanh lọc đã góp phần củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể ở 196 xã, nâng cao năng lực lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở, tạo nền tảng vững chắc để ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chấm dứt cơ bản hoạt động của FULRO trên địa bàn tỉnh.
Thực tiễn công tác giải quyết vấn đề FULRO ở Gia Lại - Kon Tum để lại một số kinh nghiệm.
Một là, phải luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống tư tưởng chủ quan, đơn giản
Thực tiễn lịch sử ghi nhận có những thời điểm, ở một số nơi, cán bộ và nhân dân đã xuất hiện tâm lý mất cảnh giác trước âm mưu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, xem nhẹ tính chất phức tạp của vấn đề FULRO. Kẻ thù đã lập tức lợi dụng những sơ hở, thiếu sót đó để kích động, lôi kéo quần chúng, lung lạc cán bộ cơ sở, làm cho tình hình có lúc diễn biến hết sức phức tạp. Bài học ở đây là công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, không một phút lơ là.
Hai là, giải quyết vấn đề FULRO phải gắn liền giữa việc phát động quần chúng với xây dựng thực lực cách mạng và chăm lo đời sống nhân dân
Không thể giải quyết vấn đề an ninh chỉ bằng biện pháp quân sự thuần túy. Đảng bộ đã kiên trì vận dụng phương châm kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ.
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự hợp tác quốc tế
Cuộc đấu tranh thắng lợi nhờ sự chi viện kịp thời, sáng suốt của Trung ương, sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ của các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn. Đặc biệt, đó còn là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu, phối hợp nhịp nhàng giữa quân và dân hai tỉnh kết nghĩa Atôpơ (Lào) và Ratanakiri (Campuchia), tạo nên thế trận liên hoàn vững chắc cả trong nội địa lẫn trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào.
Công tác giải quyết vấn đề FULRO thời kỳ 1975 - 1991 tại Gia Lai - Kon Tum là một trang sử hào hùng, với sự đóng góp công sức và máu xương của thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên cường của Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Gia Lai-Kon Tum không những giữ vững được sự trong sạch, lòng tin yêu của nhân dân đối với Đảng mà còn đập tan một tổ chức phản động được nước ngoài hậu thuẫn.
Những bài học kinh nghiệm về xây dựng thực lực cách mạng cơ sở, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ và chăm lo đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho công tác giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia trong tình hình mới.
[1] Theo tài liệu “Kế hoạch hậu chiến chống cách mạng của tổ chức phản động”, do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai- Kon Tum cung cấp. Tài liệu lưu tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.
[2] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai- Kon Tum: Báo cáo số 517/BC ngày 07/10/1978 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy về công tác tổ chức xây dựng Đảng quý III năm 1978.
[3]. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1930-2005), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.615.
