Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước[1]. Đối với Lào Cai - tỉnh miền núi, biên giới, có nhiều dân tộc cùng sinh sống - quan điểm đó cần được cụ thể hóa trong giáo dục, lĩnh vực trực tiếp góp phần hình thành tri thức, phẩm chất và bản lĩnh của thế hệ trẻ.
Sau khi thực hiện sáp nhập ngày 1/7/2025, tỉnh Lào Cai có khoảng 1,78 triệu người, với 34 dân tộc cùng sinh sống; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 57,6% dân số. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 207 di tích được xếp hạng các cấp, 56 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 4 di sản được UNESCO ghi danh[2]. Đó là nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, hiện diện trong tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công, tri thức dân gian và các chuẩn mực ứng xử cộng đồng.
Tuy nhiên, di sản không tự nhiên được trao truyền nguyên vẹn. Quá trình hội nhập, đô thị hóa, phát triển du lịch và sự lan truyền nhanh của các sản phẩm văn hóa trên không gian mạng đang tác động trực tiếp đến thị hiếu, nhận thức và hành vi của giới trẻ. Cơ hội tiếp cận tri thức ngày càng rộng mở, nhưng nguy cơ xa rời tiếng nói dân tộc, nghề truyền thống, phong tục và những giá trị tốt đẹp của cộng đồng cũng rõ hơn.
Vì vậy, giáo dục văn hóa bản địa trong trường học không thể chỉ dừng ở việc cung cấp kiến thức về lịch sử, lễ hội hay phong tục địa phương. Điều quan trọng là giúp học sinh nhận diện nguồn cội, hiểu giá trị của di sản và chuyển hóa những giá trị phù hợp thành thái độ, hành vi trong đời sống. Khi được tiếp nhận bằng hiểu biết và trải nghiệm, văn hóa bản địa có thể trở thành một “lá chắn mềm”, giúp người trẻ biết lựa chọn thông tin, tự điều chỉnh hành vi và hội nhập mà không đánh mất bản sắc
Đưa văn hóa bản địa vào trường học để bồi đắp hệ giá trị
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định hệ giá trị con người Lào Cai gồm: “Đoàn kết - Yêu nước - Kỷ cương - Văn minh - Hiếu khách”[3]. Đây là định hướng quan trọng trong xây dựng con người Lào Cai thời kỳ mới, đồng thời đặt ra yêu cầu đối với nhà trường trong việc cụ thể hóa các giá trị thành nhận thức và chuẩn mực ứng xử phù hợp với học sinh.
Văn hóa bản địa cung cấp nguồn chất liệu để thực hiện nhiệm vụ đó. Tinh thần đoàn kết thể hiện trong tập quán tương trợ khi sản xuất, dựng nhà, khắc phục thiên tai; trong các quy ước cùng bảo vệ rừng, nguồn nước và giữ gìn trật tự cộng đồng. Lòng yêu nước được bồi đắp từ tình yêu bản làng, sự trân trọng lịch sử quê hương và ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc. Kỷ cương được hình thành qua việc tôn trọng quy định của nhà trường, quy ước của cộng đồng, biết giữ lời hứa và có trách nhiệm với tập thể. Văn minh, hiếu khách thể hiện trong lời nói, thái độ, cách ứng xử với người cao tuổi, bạn bè, du khách và môi trường sống. Những chuẩn mực này cũng cần được thực hiện trên không gian mạng: không xúc phạm người khác, không phát tán thông tin chưa được kiểm chứng, không sử dụng hình ảnh văn hóa dân tộc theo cách phản cảm.
Nghi lễ gia đình, dân ca, dân vũ, truyện kể dân gian, kinh nghiệm canh tác, sử dụng cây thuốc hay bảo vệ rừng đều chứa đựng những nội dung có thể khai thác trong giáo dục. Qua đó, học sinh hiểu hơn về lòng biết ơn tổ tiên, sự hiếu kính với cha mẹ, tình yêu lao động, tinh thần cộng đồng và cách sống hài hòa với tự nhiên. Giáo dục văn hóa bản địa không thay thế toàn bộ giáo dục đạo đức, lối sống, nhưng có ưu thế riêng bởi những giá trị được truyền đạt gắn trực tiếp với gia đình, bản làng và đời sống hằng ngày của học sinh.
Thực tiễn tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và nhiều trường học ở Bát Xát, Mường Khương, Bắc Hà, Văn Bàn, Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ, Sa Pa cho thấy hiệu quả giáo dục rõ hơn khi học sinh được trực tiếp tham gia, thực hành, thay vì chỉ đọc và ghi nhớ tài liệu. Ngày hội văn hóa, câu lạc bộ dân ca, dân vũ, trình diễn trang phục, dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc, hướng dẫn thêu hoa văn và trò chơi dân gian đã đưa tri thức cộng đồng vào không gian học đường.

Ảnh: Học sinh Trường PTDT bán trú Tiểu học Chiềng Ken thực hành trò chơi đánh quả mắc lẹ dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân
(Nguồn: Trường PTDT bán trú Tiểu học Chiềng Ken)
Thông qua lồng ghép vào nội dung giáo dục trong nhà trường, văn hóa nói chung, văn hóa bản địa Lào Cai nói riêng, được tiếp nhận “sâu hơn, thấm hơn”. Bên cạnh lồng ghép, sự tham gia của nghệ nhân, người cao tuổi và người có uy tín trong các sự kiện không chỉ mang tính trình diễn, mà còn lan tỏa kỹ năng và ý nghĩa của các thực hành văn hóa. Nhà trường bảo đảm phương pháp sư phạm; cộng đồng bảo đảm tính xác thực của tri thức. Hiệu quả giáo dục không chỉ được đo bằng số kiến thức học sinh ghi nhớ, mà còn ở khả năng thực hành, thái độ trân trọng bản sắc, ý thức tôn trọng sự khác biệt và trách nhiệm khi giới thiệu văn hóa quê hương. Đó là quá trình chuyển di sản từ đối tượng tìm hiểu thành một phần trong nhận thức và hành vi của người học.
Xây dựng “lá chắn mềm” trong môi trường số
Không gian mạng đã trở thành một phần trong đời sống học sinh. Bên cạnh cơ hội tiếp cận tri thức, các em phải đối diện với thông tin sai lệch, ngôn ngữ thiếu chuẩn mực, lối sống phô trương và những trào lưu lan truyền nhanh. Trong môi trường ấy, cấm đoán chỉ có tác dụng nhất thời; khả năng tự bảo vệ bền vững phải được hình thành từ nhận thức và bản lĩnh của mỗi học sinh.
Khi có nền tảng văn hóa, học sinh sẽ có cơ sở để lựa chọn thông tin, ứng xử có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền, không phát tán nội dung sai lệch và không sử dụng hình ảnh văn hóa dân tộc theo cách phản cảm. “Lá chắn mềm” vì thế không ngăn người trẻ tiếp cận cái mới, mà giúp các em có tiêu chí để tiếp nhận và sàng lọc.
Giáo dục văn hóa bản địa cần gắn với giáo dục đạo đức số. Nhà trường không chỉ hướng dẫn học sinh sử dụng thiết bị, mà phải giúp các em biết kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao tiếp có trách nhiệm và tôn trọng giá trị văn hóa của cộng đồng.
Công nghệ cũng mở ra những phương thức mới để bảo tồn và truyền dạy văn hóa. Nhiều nhà nghiên cứu, các hội thảo… đã đề xuất xây dựng thư viện số, học liệu điện tử, bảo tàng ảo, triển lãm số, mô hình 3D di tích và ứng dụng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường[4] để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa bản địa trong các nhà trường, góp phần xây dựng “lá chắn văn hóa” cho thế hệ trẻ. Từ những gợi mở đó, giáo viên có thể thiết kế hành trình khám phá di tích bằng mã QR; học sinh có thể làm podcast bằng tiếng dân tộc, dựng video giới thiệu lễ hội, số hóa truyện kể hoặc ghi lại lời kể của nghệ nhân. Các sản phẩm này vừa rèn kỹ năng số, vừa tạo điều kiện để học sinh tham gia bảo tồn và lan tỏa văn hóa.
Tại Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh Lào Cai năm 2025 có 46 đề tài đoạt giải thuộc 5 lĩnh vực, gồm 5 giải Nhất, 10 giải Nhì, 15 giải Ba và 16 giải Khuyến khích; 7 đề tài được lựa chọn đề nghị tham dự cuộc thi toàn quốc lần thứ 21[5]. Trong đó có các sản phẩm “Âm vang các làn điệu dân ca Việt Nam”, “Mô hình Hồ Gươm kể chuyện”, “Thế giới cổ tích cây khế”. Kết quả này cho thấy học sinh có khả năng kết hợp tri thức, công nghệ, nghệ thuật và chất liệu văn hóa trong hoạt động sáng tạo.
Để giáo dục văn hóa bản địa phát huy hiệu quả
Nội dung giáo dục cần phù hợp với địa bàn và lứa tuổi, ưu tiên những di sản gắn với đời sống của học sinh. Phương pháp phải chuyển từ truyền đạt kiến thức sang tổ chức trải nghiệm thông qua trò chơi dân gian, thực hành nghề truyền thống, gặp gỡ nghệ nhân, tìm hiểu di tích và xây dựng sản phẩm số về văn hóa địa phương.
Tăng cường phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín, gia đình và mô hình “Người bản số” - những người có kỹ năng số, hiểu biết cơ bản về trí tuệ nhân tạo, có khả năng hỗ trợ cộng đồng tiếp cận công nghệ và lan tỏa tri thức về nghề thủ công, ẩm thực, trang phục, phương thức canh tác cùng các giá trị văn hóa địa phương[6]. Đây có thể trở thành lực lượng kết nối nhà trường với cộng đồng, hỗ trợ số hóa tư liệu và hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ để giới thiệu di sản.
Ngành giáo dục và ngành văn hóa cần phối hợp xây dựng hồ sơ di sản, danh sách nghệ nhân và kho học liệu địa phương được thẩm định; đồng thời bồi dưỡng giáo viên về văn hóa bản địa, tổ chức trải nghiệm và kỹ năng số. Hiệu quả giáo dục phải được đánh giá bằng sự thay đổi trong nhận thức, khả năng thực hành và hành vi của học sinh, thay vì chỉ căn cứ vào số tiết tích hợp, hoạt động ngoại khóa hay câu lạc bộ.
Giá trị của di sản không chỉ nằm ở số lượng di tích hoặc danh hiệu được công nhận, mà ở khả năng hiện diện trong đời sống của thế hệ trẻ. Khi nhà trường, gia đình, cộng đồng và “Người bản số” cùng tham gia trao truyền văn hóa, học sinh sẽ có điểm tựa để hội nhập mà không hòa tan. Đó là nền tảng góp phần bồi đắp hệ giá trị con người Lào Cai trong thời kỳ mới./.
[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
[2] Tỉnh ủy Lào Cai, Đề án số 14-ĐA/TU ngày 29/12/2025 về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển giai đoạn 2026-2030.
[3] Đảng bộ tỉnh Lào Cai, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
[4] Phạm Tiến Hưng, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai “Vai trò của giáo dục văn hóa bản địa đối với việc xây dựng và phát triển toàn diện thế hệ trẻ tỉnh Lào Cai trong kỷ nguyên số”, tham luận tại Hội thảo khoa học “Giáo dục văn hóa bản địa cho thế hệ trẻ tỉnh Lào Cai trong kỷ nguyên số”, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, tháng 3/2026.
[5] Nguyễn Thị Hoài Anh, “Lào Cai: 46 đề tài đạt giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2025”, Báo Lào Cai điện tử, ngày 13/8/2025.
[6] TS. Nguyễn Mai Thúy, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, “Giáo dục văn hóa bản địa gắn với mô hình ‘Người bản số’ trên địa bàn tỉnh Lào Cai”, tham luận tại Hội thảo khoa học “Giáo dục văn hóa bản địa cho thế hệ trẻ tỉnh Lào Cai trong kỷ nguyên số”, tháng 3/2026
