1. Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”[1]. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nội dung cốt lõi trong tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, được xem như trục xuyên suốt và nguyên tắc nền tảng trong toàn bộ đường lối phát triển đất nước. Sự kiên định này không mang tính giáo điều, mà là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc quy luật lịch sử và tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Trong bối cảnh mới, sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở việc giữ vững mục tiêu phát triển vì con người, vì công bằng và tiến bộ xã hội, đồng thời linh hoạt trong phương thức thực hiện, như phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này phản ánh tư duy biện chứng giữa “kiên định” và “đổi mới”, giữa mục tiêu lâu dài và bước đi cụ thể. Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa còn là cơ sở để bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hệ thống chính trị trong điều kiện toàn cầu hóa. Đồng thời, nó tạo nền tảng để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Như vậy, kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là lựa chọn mang tính chính trị mà còn là định hướng chiến lược có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và ổn định của đất nước.
2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững, trước hết là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[2]. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung trọng tâm trong tầm nhìn chiến lược phát triển của Việt Nam hiện nay. Đây là quá trình xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm vận hành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố của thị trường, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện Việt Nam, thể chế này phải giải quyết hài hòa mối quan hệ nhà nước, thị trường, xã hội với vai trò điều tiết của Nhà nước và mục tiêu công bằng xã hội. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, mà còn khắc phục những hạn chế của thị trường như phân hóa giàu nghèo hay độc quyền. Điều này đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và minh bạch.
Đồng thời, cần phát triển đầy đủ các loại thị trường (vốn, lao động, khoa học – công nghệ…) và hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Như vậy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là điều kiện then chốt để kết hợp hiệu quả giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm phát triển bền vững. Sự kết hợp giữa quy luật cạnh tranh của thị trường, vai trò điều tiết của Nhà nước và mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội là một nguyên lý cốt lõi trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong mô hình của Việt Nam, vai trò này còn gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là không chỉ điều tiết để tăng trưởng mà còn bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Điều đó thể hiện qua các chính sách phân phối lại thu nhập, an sinh xã hội, phát triển giáo dục và y tế. Sự kết hợp hài hòa ba yếu tố này tạo nên một cơ chế phát triển vừa hiệu quả, vừa nhân văn, vừa bền vững, khắc phục được cả hạn chế của thị trường tự do lẫn cơ chế bao cấp trước đây. Vì vậy, Nhà nước cần thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, xây dựng khung pháp lý, kiểm soát độc quyền và định hướng phát triển.
3. Đột phá về khoa học – công nghệ
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV nhấn mạnh: “Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại”[3]. Đây là yếu tố quyết định nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Luận điểm “Tập trung triển khai đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chuyển đổi số” thể hiện nhận thức sâu sắc của Đảng về vai trò quyết định của tri thức trong kỷ nguyên mới.
Trong điều kiện hiện nay, khoa học – công nghệ không chỉ hỗ trợ mà còn dẫn dắt tăng trưởng kinh tế. Việc phát triển mạnh mẽ khoa học và đổi mới sáng tạo giúp nâng cao năng suất lao động thông qua tự động hóa, số hóa và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Đồng thời, nó tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với Việt Nam, đây còn là con đường để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và rút ngắn khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần đồng bộ các giải pháp như phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện thể chế khoa học – công nghệ và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Như vậy, luận điểm này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có giá trị chiến lược lâu dài đối với sự phát triển quốc gia.
4. Phát triển văn hóa và con người
Tầm nhìn chiến lược về phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được thể hiện ở việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị, coi đây không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là động lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa và chuyển đổi số, qua đó thể hiện tư duy chiến lược mang tính dài hạn, chủ động thích ứng với bối cảnh quốc tế biến đổi nhanh chóng. Tầm nhìn này còn thể hiện ở định hướng phát huy sức mạnh mềm văn hóa quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc tế của Việt Nam thông qua các giá trị văn hóa đặc sắc, Đảng nhận thức hơn vai trò về vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng con người. Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV Đảng ta nhận định: “Lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng, khơi dậy, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam được xác định là một nội dung trong đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước 10 năm 2021 – 2030”[4]. Như vậy, có thể thấy, phát triển văn hóa trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là một mục tiêu riêng biệt mà đã được tích hợp trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, phản ánh rõ nét tư duy biện chứng, toàn diện và hiện đại của Đảng trong hoạch định đường lối phát triển đất nước.
Đảng xác định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được xác định là một mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; coi phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhân tố nội sinh cốt lõi và động lực của sự phát triển bền vững”[5]. Điều này phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng, đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển.
Việc nhấn mạnh xây dựng con người toàn diện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy Đảng đã nhận thức rõ xu thế chuyển từ “tăng trưởng dựa vào tài nguyên” sang “tăng trưởng dựa vào con người”, chủ động chuẩn bị nền tảng nhân lực cho tương lai. Đây chính là đặc trưng của tầm nhìn chiến lược của Đảng thấy từ xa, đón trước xu hướng phát triển. Việc đưa “xây dựng con người” vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chứng tỏ sự phát triển đồng bộ, hài hòa, tránh sai lầm tăng trưởng kinh tế nhưng suy thoái con người, điều này cho thấy Đảng ta hướng tới lợi ích lâu dài của dân tộc không chạy theo thành tích tăng trưởng lợi ích trước mắt. Đây là dấu hiệu cốt lõi của tầm nhìn chiến lược đó là ưu tiên những giá trị phát triển bền vững của đất nước. Việc xác định “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” là mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV không phải là một nội dung riêng lẻ, mà là biểu hiện tập trung của tầm nhìn chiến lược của Đảng ở ba cấp độ: nhìn đúng bản chất của phát triển là lấy con người làm trung tâm, nhìn xa xu thế thời đại là phát triển kinh tế tri thức, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thấy rõ con đường phát triển tất yếu, bền vững và toàn diện của đất nước. Qua đó khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng là tầm nhìn vì con người, do con người và hướng tới sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh hiện nay, phát triển con người toàn diện không chỉ dừng lại ở nâng cao đời sống vật chất mà còn bao hàm phát triển trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần và năng lực sáng tạo. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, bởi mọi thành tựu kinh tế – xã hội cuối cùng đều hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên mới là
sự kết tinh giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và hiện đại. Việc hiện thực hóa tầm nhìn này đòi hỏi tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và phát huy vai trò của toàn Đảng, toàndân, toàn quân, biến tầm nhìn thành kế hoạch hành động cụ thể con người để đưa Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới
[1] Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.2, Nxb CTQGST, H.2026. Tr. 259
[2] Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t2, Nxb CTQGST, H.2026. Tr.356
[3] Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t2, Nxb CTQGST, H.2026. Tr.386.
[4] Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t2, Nxb CTQGST, H.2026. Tr.52.
[5] Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t2, Nxb CTQGST, H.2026. Tr.55
