Chủ nghĩa tân tự do thường được giới thiệu bằng những khẩu hiệu quen thuộc: “thu hẹp nhà nước”, “mở rộng thị trường”, “tự do kinh tế”, “giảm điều tiết”, “tư nhân hóa”. Theo cách nói đó, nhà nước tân tự do dường như là một nhà nước nhỏ hơn, ít can thiệp hơn và nhường nhiều không gian hơn cho doanh nghiệp tư nhân.

Nhưng thực tế không đơn giản như vậy.

Nhà nước không giảm can thiệp, mà đổi hướng ưu tiên

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước tư bản phát triển từng duy trì một mô hình trong đó nhà nước giữ vai trò khá lớn. Nhà nước tham gia ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ người lao động, mở rộng phúc lợi xã hội, điều tiết tài chính và duy trì sự thỏa hiệp nhất định giữa tư bản và lao động. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1970, mô hình này bắt đầu suy yếu. Tăng trưởng chậm lại, lạm phát gia tăng, cạnh tranh toàn cầu gay gắt hơn. Cùng với đó, quyền lực của người lao động và công đoàn bị tấn công mạnh mẽ. Trong bối cảnh ấy, các lực lượng tư bản thúc đẩy một chương trình tái cấu trúc sâu rộng. Chương trình đó bao gồm tự do hóa thương mại, phi điều tiết thị trường tài chính, tư nhân hóa doanh nghiệp và dịch vụ nhà nước, hỗ trợ “tối ưu hóa” thuế, thúc đẩy sự cơ động của tư bản, hạ thấp thuế quan, cắt giảm phúc lợi và làm suy yếu quyền lực của lao động. Vì vậy, không thể hiểu tân tự do đơn giản là làm cho nhà nước nhỏ đi. Thực chất, tân tự do làm cho nhà nước thay đổi đối tượng ưu tiên. Nhà nước vẫn can thiệp, nhưng can thiệp theo hướng mở cửa thị trường, dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, giảm quyền lực công đoàn, tư nhân hóa tài sản công, mở rộng quyền của nhà đầu tư và tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho tư bản.

Điều đáng chú ý là nhiều rủi ro xã hội được chuyển từ nhà nước sang cá nhân, gia đình và người lao động. Trong khi đó, tư bản lại được hưởng thêm các cơ chế bảo vệ mới. Bởi vậy, vấn đề không nằm ở chỗ nhà nước “lớn” hay “nhỏ”, mà ở chỗ nhà nước phục vụ lợi ích nào và bảo vệ chủ thể nào.

Khi lao động bị làm suy yếu

Một biểu hiện rõ của nhà nước tân tự do là sự suy yếu của lao động có tổ chức. Trong những năm đầu của thời kỳ tân tự do, các cuộc đối đầu giữa nhà nước, giới chủ và phong trào lao động thường kết thúc bất lợi cho người lao động. Tại Mỹ, sau khi Tổng thống Ronald Reagan sa thải hơn 11.000 kiểm soát viên không lưu đình công và giải thể quyền đại diện của công đoàn PATCO, một thông điệp chính trị rất rõ đã được gửi tới phong trào lao động: nhà nước có thể dùng quyền lực cưỡng chế để phá vỡ những tổ chức lao động có khả năng thách thức trật tự mới. Hệ quả là số cuộc ngừng việc quy mô lớn trong khu vực tư nhân ở Mỹ giảm từ mức trung bình 285 cuộc mỗi năm trong thập niên 1960-1970 xuống chỉ còn 5 cuộc vào năm 2009; tiền lương cũng rơi vào tình trạng trì trệ[1]. Tỷ lệ công đoàn giảm ở hầu hết các nước công nghiệp: ở Liên minh châu Âu, tỷ lệ công nhân tham gia công đoàn giảm từ 44% năm 1978 xuống còn 23% năm 2008; ở New Zealand giảm 20% từ 1980 đến 1992; ở Anh giảm 15%; ở Mỹ giảm 10%. Riêng trong các trung tâm công nghiệp, công đoàn mất 14 triệu thành viên trong giai đoạn 2000-2008[2].

Khi công đoàn, các đảng lao động và những thiết chế đại diện cho người lao động suy yếu, giới kinh doanh có thêm điều kiện thúc đẩy các chính sách có lợi cho mình. Những quy định từng bảo vệ người lao động bị coi là rào cản đối với hiệu quả thị trường. Doanh nghiệp nhà nước và dịch vụ công bị xem là khu vực cần đưa vào cạnh tranh tư nhân. Phúc lợi xã hội bị phê phán là làm suy yếu động lực lao động. Từ đây có thể thấy, nhà nước tân tự do không đứng trung lập giữa tư bản và lao động. Nhà nước tái tổ chức cán cân quyền lực xã hội theo hướng làm giảm năng lực thương lượng tập thể của lao động, đồng thời mở rộng không gian hoạt động cho tư bản.

Cảnh giác luận điệu lợi dụng cái gọi là “chủ nghĩa tân tự do” chống phá công cuộc đổi mới của Việt Nam

Tư nhân hóa: Nhà nước không rút lui, mà chuyển giao

Một biểu hiện quan trọng khác của tân tự do là làn sóng tư nhân hóa trên diện rộng. Ở Anh, tư nhân hóa bắt đầu từ thập niên 1970 như một điều kiện cho khoản vay khẩn cấp của IMF. Quá trình này tăng tốc mạnh dưới thời Thủ tướng Margaret Thatcher với các doanh nghiệp như BP, British Aerospace, British Telecom, Jaguar, British Airways, Rolls-Royce, British Steel và British Coal[3]. Chính phủ Thatcher còn bán một triệu căn nhà hội đồng cho người thuê. Đây không chỉ là một chính sách kinh tế, mà còn là một chính sách chính trị. Những người sở hữu nhà mới được kỳ vọng sẽ trở thành lực lượng xã hội ủng hộ dự án tân tự do. Ở Pháp, các làn sóng tư nhân hóa diễn ra dưới thời Jacques Chirac và các giai đoạn sau đó, bao gồm Saint-Gobain, Paribas, Société Générale, TF1, BNP, Rhône-Poulenc, Elf Aquitaine và Renault. Ở Italy, sau năm 1992, các doanh nghiệp như Telecom Italia, Autostrade, Aeroporti di Roma và nhiều ngân hàng lớn cũng được tư nhân hóa. Kết quả là “nền kinh tế hỗn hợp” của thời kỳ trước suy yếu. Tư bản tư nhân tìm thấy những không gian sinh lợi mới trong các lĩnh vực từng nằm ngoài phạm vi kiểm soát trực tiếp của nó như viễn thông, bưu chính, đường sắt, xa lộ, nhà tù và dịch vụ an ninh[4].

Tất nhiên, tư nhân hóa không phải lúc nào cũng không có lý do kinh tế. Một số doanh nghiệp nhà nước có thể kém hiệu quả hoặc khó cạnh tranh trong thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, xét trong dài hạn, điều quan trọng hơn là phạm vi đời sống kinh tế nằm ngoài sự kiểm soát của tư bản tư nhân bị thu hẹp mạnh.

Những lĩnh vực từng được xem là dịch vụ công, lợi ích công hoặc hạ tầng xã hội dần được tổ chức lại theo logic lợi nhuận. Khi đó, nhà nước không đơn giản là rút lui. Nhà nước dùng quyền lực của mình để chuyển giao tài sản, dịch vụ và chức năng công sang khu vực tư nhân.

 Phi điều tiết: Dỡ bỏ kiểm soát để mở đường cho tư bản

Cùng với tư nhân hóa là phi điều tiết. Đây là quá trình nhà nước dỡ bỏ hoặc nới lỏng các quy định từng kiểm soát hoạt động của thị trường và doanh nghiệp.

Ở Mỹ, các ngành hàng không, vận tải đường bộ và viễn thông được phi điều tiết. Đạo luật phi điều tiết hàng không năm 1978 loại bỏ sự giám sát của Civil Aeronautics Board, trao cho các hãng hàng không tư nhân quyền kiểm soát giá vé và chuyến bay. Hệ quả là nhiều sân bay nhỏ mất dịch vụ hàng không, trong khi một số hãng có vị thế gần như độc quyền tại các thị trường địa phương. Mexico cũng phi điều tiết lĩnh vực tài chính và tư nhân hóa nhiều dịch vụ nhà nước trong thập niên 1980. Argentina, Hàn Quốc, Ai Cập và Nam Phi về sau cũng đi theo hướng phi điều tiết tài chính nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài[5]. Những ví dụ này cho thấy nhà nước tân tự do không biến mất khỏi đời sống kinh tế. Trái lại, nhà nước chủ động dỡ bỏ các cơ chế kiểm soát cũ để mở rộng phạm vi vận động của tư bản tư nhân.

Phúc lợi bị thu hẹp, tư bản được bảo vệ

Trên lĩnh vực phúc lợi xã hội, sự tái định hướng của nhà nước càng thể hiện rõ. Các nhà tư tưởng và tổ chức kinh doanh tân tự do thường phản đối mạnh mẽ nhà nước phúc lợi. Họ cho rằng phúc lợi và tái phân phối làm méo mó thị trường lao động, làm giảm động lực làm việc và làm suy yếu trách nhiệm cá nhân.

Nhưng điều đáng chú ý là nhà nước chỉ rút khỏi một số trách nhiệm xã hội, chứ không rút khỏi trách nhiệm bảo vệ tích lũy tư bản. Phúc lợi bị coi là gánh nặng ngân sách, nhưng bảo hộ quyền sở hữu, ưu đãi thuế, cứu trợ tài chính, hạ tầng cho doanh nghiệp và bảo vệ sở hữu trí tuệ lại được xem là cần thiết.

Người lao động được yêu cầu tự thích nghi với thị trường. Trong khi đó, tư bản được hỗ trợ để di chuyển, đầu tư, tối ưu hóa thuế và khai thác lợi thế toàn cầu. Có thể nói, chủ nghĩa tân tự do chuyển rủi ro xuống dưới và chuyển bảo hộ lên trên. Cá nhân, gia đình và người lao động phải gánh nhiều rủi ro hơn; còn tư bản được hưởng nhiều cơ chế bảo vệ hơn.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định nhà nước tân tự do không phải là nhà nước giảm can thiệp theo nghĩa giản đơn. Đó là một nhà nước được tái cấu trúc theo hướng ưu tiên tích lũy tư bản. Vì vậy, khi bàn về vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, câu hỏi cần đặt ra là: nhà nước phục vụ lợi ích nào, bảo vệ chủ thể nào và phân bổ rủi ro cho ai.

Đây cũng là điểm cần đặc biệt lưu ý khi nhìn nhận những luận điệu nhân danh “tự do thị trường”, “phi điều tiết” hay “tư nhân hóa” để gây hiểu lầm về bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản không thể vận hành nếu thiếu quyền lực nhà nước. Vấn đề là quyền lực ấy được sử dụng vì lợi ích của số đông hay chủ yếu vì lợi ích của tư bản.

 

[1] Gareth Stedman Jones (2019), “European Socialism from the 1790s to the 1890s,” The Cambridge History of Modern European Thought, Cambridge University Press, p.207.

[2] Jacques Rancière (1983), “The Myth of the Artisan: Critical Reflections on a Category of Social History”, International Labor and Working-Class History, 24 (1983), p.1–16.

[3] Jones (2019), “European Socialism”, The Cambridge History of Modern European Thought, Cambridge University Press, p. 201.

[4] Quan điểm này được Robert Sutton phân tích trong phần dẫn nhập của Travels in Icaria của Étienne Cabet (Syracuse University Press, 2003), tr.xii–xv, xx.

[5] Keith Taylor (1982), Political Ideas of the Utopian Socialists, Frank Cass, p. 187.