Năm 1946, trong bộn bề việc nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải sang Pháp, tiến hành đàm phán, ký Tạm ước 14/9, để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến. 80 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức mỗi người Việt Nam chúng ta đều khó quên những tháng ngày lịch sử, khi cả dân tộc phải buộc cầm súng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp
Nỗ lực ngoại giao, tìm kiếm thời gian hòa hoãn, củng cố thực lực
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, xâm lược nước ta lần nữa; chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập còn hết sức non trẻ; nhân dân Việt Nam vừa mới hưởng độc lập chưa được bao lâu đã phải đối phó với giặc đói, giặc dốt, thù trong, giặc ngoài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt phân tích tình hình, đánh giá đúng, âm mưu, hành động và khả năng của các thế lực đế quốc, kịp thời đề ra những đối sách khôn khéo, linh hoạt, nỗ lực tìm kiếm một giải pháp hòa bình trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn, nhất là trong quan hệ với nước Pháp để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi, vừa kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, nhất là nhân dân Pháp đối với sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc, đồng thời tận dụng mọi thời cơ hòa hoãn để xây dựng đất nước, nỗ lực ngăn chặn chiến tranh duy trì một nền hòa bình ở Việt Nam và cho các dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế, là phương châm nhất quán trong hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện rõ ngay từ những năm đầu kháng chiến kiến quốc (1945 - 1946).
Trong Bản Thông cáo đầu tiên về chính sách đối ngoại, ngày 03/10/1945, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu của Việt Nam là tham gia giữ gìn hòa bình thế giới: “Đối với các nước Đồng minh, Việt Nam mong muốn duy trì hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ, để xây dựng nền hòa bình thế giới lâu dài”[1].

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ Việt kiều tại Pháp, năm 1946 (Ảnh tư liệu lịch sử Bộ Ngoại giao)
Về quan hệ với nước Pháp và nhân dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm hòa bình, hữu nghị và hợp tác: “Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hòa bình (từ trước tới nay chưa có một cuộc điều đình như vậy, nhưng giả sử có, lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hoan nghênh)….”[2].
Với tinh thần hòa bình, hữu nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ (ngày 06/3/1946).
Theo Hiệp định, về mặt pháp lý, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Về phía Pháp khi vào miền Bắc cũng được quy định rõ về địa điểm, thời gian và số lượng.
Hiệp định sơ bộ được ký kết là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động....Bảo toàn thực lực dành lấy phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào”[3].
Tiếp đó, ngày 31/5/1946, trong bối cảnh đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn, phức tạp sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, “theo mệnh lệnh của Chính phủ và ý chí của quốc dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Nguyên thủ quốc gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên đường thăm Cộng hòa Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm của Người là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của Chính phủ Việt Nam trong những năm 1945-1946 để cứu vãn nền hòa bình trong khi thực dân Pháp đang quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa. Tận dụng thời gian quý báu ở nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các quan chức và đại biểu Quốc hội Pháp, tiếp Việt kiều từ các miền về thăm, gặp gỡ dân chài địa phương, thăm phong cảnh để hiểu biết nhiều hơn về đời sống của nhân dân và tình hình nước Pháp.
Ngày 22/6, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris. Trong suốt thời gian ở Pháp, Người coi đây là một dịp tốt để tranh thủ cảm tình của nhân dân Pháp và thế giới; chủ động, khẩn trương triển khai nhiều hoạt động, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhằm tăng cường tình hữu nghị và đoàn kết quốc tế, sự hiểu biết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, bạn bè và nhân dân các nước trên thế giới. Người luôn chủ động làm cho các ký giả hiểu rõ lập trường của Việt Nam trong cuộc đàm phán ở Fontainebleau, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ Việt - Pháp và quyết tâm chiến đấu của cả dân tộc Việt Nam vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
Ngày 11/7/1946, tại buổi đón tiếp của Ủy ban Trung ương Hội Pháp - Việt, Người nói: “Lòng mong ước mạnh nhất của tôi, sự quan tâm nhất của nước Cộng hòa Việt Nam, nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam là thực hiện được tình thân thiện Pháp - Việt"[4].
Những cuộc tiếp xúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí góp phần quan trọng làm cho nhân dân Pháp cũng như nhân dân các nước hiểu thêm về đất nước, con người và cuộc đấu tranh chính nghĩa giành độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.
Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc nhiều với các chính khách, các lãnh tụ của các đảng lớn của Pháp như: Phong trào Cộng hòa bình dân, Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, các nhân vật chính trị trọng yếu thuộc các đảng phái, khuynh hướng chính trị, các vị bộ trưởng và các tướng lĩnh Pháp, tiếp đại biểu quân sự các nước Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc dự ngày Hội Quân giới Pháp…
Hội nghị Fontainebleau kéo dài hơn 2 tháng (từ ngày 06/7 đến ngày 13/9/1946) và thất bại do phía Pháp cố tình phá hoại đàm phán với mục đích chống nguy cơ cộng sản và vẫn giữ nguyên lập trường mà họ đưa ra tại Hội nghị Đà Lạt: Lập chế độ toàn quyền ở Đông Dương, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, không thừa nhận Việt Nam có quyền ngoại giao riêng. Quan điểm của Việt Nam là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, quan hệ Việt - Pháp phải dựa trên cơ sở hòa bình, tôn trọng lẫn nhau, hai bên cũng có lợi.
Trải qua nhiều lần gặp gỡ, tranh luận bên ngoài Hội nghị với những nhân vật Pháp chủ chốt có liên quan trực tiếp đến cuộc đàm phán như G. Bidault, M. Moutet, Max André, D’Argenlieu, với tinh thần hòa giải đầy thiện chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ vẫn không thuyết phục được Pháp chấp nhận hai nội dung chính trị có ý nghĩa sinh tử đối với Việt Nam: Độc lập và thống nhất.
Ngày 17/8/1946, trả lời phỏng vấn báo Franc-Tireur, Hồ Chí Minh nói: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp"[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký Tạm ước ngày 14/9/1946 (Ảnh tư liệu)
Ký Tạm ước 14/9/1946 - mong muốn cứu vãn hòa bình
Trước tình thế khả năng hòa hoãn ngày càng giảm, nguy cơ xung đột qui mô toàn cục ngày càng tăng, ngày 14/9/1946, với hy vọng cứu vãn hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng M.Moutet, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước như một nỗ lực cuối cũng nhằm cứu vãn nền hòa bình đang bị đe dọa bởi cuộc chiến tranh mà các thế lực thực dân phản động Pháp đang ráo riết triển khai.
Chính phủ Pháp nhận thi hành mấy điều chính ở Nam Bộ: Thả những người Việt Nam yêu nước bị bắt vì chính trị và vì kháng chiến; đồng bào Nam Bộ được quyền tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do viết báo, tự do đi lại…; hai bên đình chỉ mọi xung đột; Chính phủ Việt Nam bảo đảm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam.
Việc ký Tạm ước 14/9 được Đảng ta xác định là một bước nhân nhượng cuối cùng. Mặc dù không đạt được kết quả khi ký Tạm ước, nhưng Đảng khẳng định: “Việc đi Pháp của Hồ Chủ Tịch và phái đoàn Chính phủ lần này tuy không đạt được mục đích ký một hiệp ước chính thức và toàn thể với thực dân Pháp, nhưng đã mang lại cho ta một kết quả tốt đẹp: làm cho nhân dân Pháp hiểu ta và ủng hộ ta hơn; làm cho dư luận quốc tế chú ý đến Việt Nam và hiểu sự hy sinh phấn đấu và nguyện vọng tha thiết của dân tộc Việt Nam.”[6].
Với mục đích tiếp tục đàm phán nhằm đẩy lùi hoặc tạm hoãn chiến tranh, trên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp Cao ủy Pháp Đác giăng-li-ơ (D’Argenlieu) tại Vịnh Cam Ranh ngày 18/10/1946 để bàn cách thực hiện Tạm ước 14/9. Tuy không đạt được những yêu cầu về hòa hoãn, nhưng cuộc gặp tại Cam Ranh đã để lại những ấn tượng về một dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, về Hồ Chí Minh - Người luôn nỗ lực cho hòa bình, hợp tác và hữu nghị giữa Việt Nam và Pháp trong tâm tưởng của Cao ủy Pháp Đác giăng-li-ơ: “Dù sao tôi vẫn có cảm tưởng rằng ông Hồ chân thành mong muốn, ít ra là trong một thời gian, sẽ tìm thấy ở sự giao hòa với Pháp một sự củng cố lại các kết quả đã giành được và bước đầu của những tiến bộ mới”[7].
Trong “Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về” (ngày 23/10/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thoả hiệp tạm thời 14-9, một là làm cho hai bên Việt - Pháp dễ làm ăn, hai là dọn đường cho cuộc hội nghị sau này tiến hành được thân thiện”[8].
Ngày 13/12/1946, tức là trước thời điểm Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 06 ngày, trả lời phỏng vấn phóng viên Pháp, Người vẫn kiên trì để đàm phán hòa bình và khẳng định: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh”[9].
Khi khả năng thương lượng không thể thực hiện được nữa, mọi cố gắng của Người để cứu vãn cuộc chiến tranh đều bị phía thực dân Pháp từ chối, nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam buộc phải cầm súng đứng lên chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần. Người luôn luôn đề cao tinh thần hòa bình, giải quyết mội vấn đề thông qua đàm phán, thương lượng và khẳng định: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp…Người Việt người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà để gây dựng hạnh phúc cho cả hai dân tộc”.[10]
Trong thời điểm vận mệnh dân tộc đứng trước những thử thách nghiêm trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm hòa bình, hữu nghị và hợp tác, nỗ lực tìm mọi giải pháp giải quyết hòa bình ở Việt Nam, bằng mọi cách ngăn chặn chiến tranh: “Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng để giữ hòa bình. Dù thực dân Pháp đã bội ước, đã gây chiến tranh, nhưng gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản. Khi Pháp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”[11].
[1] Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 132.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011,t.4, tr 85.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 8, tr 49.,
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.4, tr 309.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 323.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr 119-120.
[7] Philippe De Ville: Pari-Sài Gòn-Hà Nội, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 2003, tr 204.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 469.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.526.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 511.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.28.
