Chủ tịch Hồ Chí Minh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người là tấm gương mẫu mực, hy sinh cả cuộc đời cho nhân dân ta, đất nước ta, không màng lợi lộc, vinh hoa, phú quý, chỉ mong muốn duy nhất là mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Người khẳng định “nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[1].
Mong muốn tột bậc của Bác Hồ
Gần một năm sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập với toàn thế giới, sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 21/01/1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”[2].
Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn duy nhất: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[3].
Thực hiện mong ước độc lập cho dân tộc, thấu hiểu cảnh mất nước, làm nô lệ, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Sau khi bôn ba đến nhiều nước, nhiều châu lục, nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn, các học thuyết nổi tiếng trên thế giới, Người đã tìm ra con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc: Con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Và từ đó, Người xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) với sứ mệnh lãnh đạo nhân dân giành độc lập, tự do, đáp ứng nhu cầu giải phóng dân tộc của quần chúng nhân dân.
Mùa Thu năm 1945, cả dân tộc, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, vùng lên theo Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám “long trời lở đất”. Cuộc cách mạng ấy “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đập tan xiềng xích nô lệ, lật nhào chế độ thuộc địa nửa phong kiến tồn tại gần một thế kỷ trên đất nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc; thiết lập nên nền dân chủ cộng hòa, ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Đất nước độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp quay lại nổ súng xâm lược miền Nam (ngày 23/9/1945), khát vọng thống nhất Tổ quốc lại cháy bỏng trong tâm can của Hồ Chí Minh: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào trốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”[4]. Đối với Người, độc lập dân tộc không tách rời với thống nhất Tổ quốc và độc lập, thống nhất Tổ quốc, gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Bác Hồ với các đại biểu tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng, tháng 02/1951 (Ảnh tư liệu)
Người đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[5].
Người tìm thấy giá trị của độc lập chính là tự do, hạnh phúc của nhân dân và muốn có hạnh phúc, tự do thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, Người nhận thấy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6].
Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là làm sao cho dân giàu, nước mạnh với mục đích là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân; là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là cống hiến quý giá nhất của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam.
Đảng ta hiện thực hóa mong ước của Bác Hồ
Hơn 95 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Đảng luôn “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”[7].
Đảng đã khẳng định vai trò “cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[8], đưa dân tộc Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[9].
Qua 13 nhiệm kỳ đại hội, mỗi đại hội đều có những dấu ấn khác nhau, nhưng tựu trung lại đều thực hiện một khát vọng, mục tiêu cao nhất, duy nhất, đó là độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục khơi dậy vai trò chủ thể, động lực của con người trong sự nghiệp đổi mới - khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[10].

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960 (Ảnh tư liệu)
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc;... vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[11]. Trước thềm Đại hội XIV, chuẩn bị cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Đại hội XIV của Đảng có trách nhiệm lịch sử to lớn đối với Tổ quốc, đồng bào và dân tộc ta, là mốc son lịch sử mới cho dân tộc Việt Nam cất cánh, vươn mình. Đại hội sẽ bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV gồm những đồng chí thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo, bản lĩnh và trí tuệ đủ sức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, không ham công danh phú quý, hy sinh trọn đời cho Đảng, cho đất nước, nhớ lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; lợi ích của nhân dân gắn liền với sự nghiệp của Đảng; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng là ước mơ, nguyện vọng của nhân dân”[12], Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr 64.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.187.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr187.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.272.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.64.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr 17.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Tlđd, tr.88.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.25.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.46.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.21.
[12] Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2023, tr. 369.
