Từ xuyên tạc thô bạo đến “pha loãng” tinh vi
Cần phân biệt rõ: nghiên cứu lịch sử nghiêm túc luôn cần tư liệu mới, tranh luận học thuật và cách tiếp cận đa chiều khách quan. Trái lại, “xét lại” lịch sử mang động cơ chính trị thường bắt đầu từ một kết luận định sẵn, sau đó cắt xén tư liệu, tách sự kiện khỏi hoàn cảnh, tuyệt đối hóa sai lầm cục bộ để phủ định cả một tiến trình lịch sử.
Thủ đoạn “pha loãng” nguy hiểm ở chỗ người ta nhân danh “khách quan” để đánh đồng bên xâm lược với bên chống xâm lược; nhân danh “hòa giải” để xóa nhòa chính nghĩa và phi nghĩa; lấy một số ký ức hoài niệm hoặc hiện tượng tiêu cực che khuất bối cảnh thuộc địa, chiến tranh và sự hy sinh của hàng triệu người. Những mệnh đề như Cách mạng Tháng Tám là “ăn may”, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chỉ là “nội chiến”, hay đổi mới là “đổi màu” được lặp đi lặp lại nhằm biến điều sai thành điều “quen tai”.
Trong môi trường số, thủ đoạn ấy được khuếch đại bằng video ngắn, ảnh cắt ghép, tài khoản ảo và nội dung do AI tạo ra. Báo cáo Rủi ro toàn cầu năm 2026 xếp thông tin sai lệch và xuyên tạc đứng thứ hai trong các rủi ro của hai năm tới[1]. UNESCO cũng cảnh báo các thuật toán tối đa hóa tương tác có thể đánh đổi độ tin cậy của thông tin[2]. Khi cảm xúc chạy nhanh hơn kiểm chứng, lời bịa đặt có thể đi vòng quanh mạng xã hội trước khi sự thật kịp “xỏ giày”.
Sự thật không thể bị xuyên tạc
Gọi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “ăn may” là cố tình xóa bỏ 15 năm chuẩn bị lực lượng của Đảng, ba cao trào cách mạng, sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, quá trình xây dựng căn cứ địa và nghệ thuật chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa. Nhật đầu hàng Đồng minh tạo ra thời cơ khách quan; nhưng nếu không có lực lượng được tổ chức, đường lối đúng và sức mạnh đoàn kết của nhân dân, thời cơ không thể tự biến thành chính quyền cách mạng trên phạm vi cả nước.
Quy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành một cuộc “nội chiến” thuần túy là cắt bỏ yếu tố can thiệp và hiện diện quân sự nước ngoài khỏi lịch sử. Điều 1 Hiệp định Paris năm 1973 ghi rõ Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Hiệp định đồng thời quy định việc rút quân đội Hoa Kỳ và quân đội nước ngoài. Văn bản quốc tế có chữ ký của các bên đã bác bỏ lối kể chuyện cố tình làm biến mất vấn đề độc lập, chủ quyền và thống nhất dân tộc. Cần nghiên cứu đầy đủ mọi mất mát, sai lầm và bi kịch của chiến tranh, nhưng không thể từ đó đảo ngược nguồn gốc, tính chất và mục tiêu chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Cũng không thể phủ nhận thành tựu đổi mới bằng một vài lát cắt khó khăn. Ngân hàng Thế giới đánh giá cải cách từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình năng động chỉ trong một thế hệ; GDP năm 2025 tăng 8%. Những hạn chế phải được thẳng thắn nhìn nhận để sửa chữa, nhưng lấy khuyết điểm để xóa sạch thành tựu là ngụy biện, không phải khoa học.
Đằng sau những thành tựu ấy là cái giá của độc lập. Đến tháng 7/2026, cả nước đã xác nhận trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,2 triệu liệt sĩ. Tri ân lịch sử không phải nuôi dưỡng hận thù; đó là đạo lý và trách nhiệm với những người đã trao cả cuộc đời để đất nước có hòa bình, thống nhất hôm nay.
Dân tộc Việt Nam luôn rộng mở với hòa bình, hòa hợp và hợp tác. Nhưng hòa hợp dân tộc không thể được xây trên sự lãng quên có chủ ý. Khoan dung không đồng nghĩa biến kẻ xâm lược thành “người khai hóa”, biến chính quyền lệ thuộc thành đại diện cho toàn dân hoặc coi sự hy sinh vì độc lập chỉ là hệ quả của một cuộc tranh chấp ý thức hệ.
Bảo vệ lịch sử cũng không có nghĩa đóng cửa nghiên cứu hay né tránh khuyết điểm. Sự thật càng vững chắc khi được chứng minh bằng tư liệu đa nguồn: văn kiện, hồ sơ lưu trữ trong và ngoài nước, điều ước quốc tế, hồi ký đối chứng, chứng tích vật chất và nghiên cứu được thẩm định. Một nền sử học bản lĩnh không sợ câu hỏi; chỉ bác bỏ việc dùng câu hỏi giả để cài đặt kết luận xuyên tạc.
Xây dựng “tấm lá chắn” trên không gian số
Đấu tranh với âm mưu pha loãng, xét lại lịch sử không thể chỉ bắt đầu sau khi tin giả đã lan rộng. Cần tiếp tục số hóa các cơ sở dữ liệu lịch sử, bảo đảm dễ tìm kiếm, có trích dẫn, có đối chiếu và đưa kho lưu trữ đến gần lớp học, công chúng. Ngoài ra, giáo dục lịch sử phải chuyển mạnh từ học thuộc sự kiện sang hiểu bối cảnh, phân tích chứng cứ và so sánh nguồn tin. Người học cần được trang bị kỹ năng kiểm chứng ảnh, video, tài khoản phát tán và nội dung do AI tạo sinh. Khi người trẻ biết hỏi “nguồn ở đâu, toàn văn là gì, sự kiện diễn ra trong bối cảnh nào?”, tin giả sẽ mất đất sống.
Báo chí, cơ quan nghiên cứu, bảo tàng và đội ngũ sáng tạo nội dung phải chủ động đưa sự thật lịch sử lên đúng “mặt trận” mà thông tin xuyên tạc đang chiếm lĩnh: video ngắn, đồ họa, podcast, triển lãm số và nội dung đa ngôn ngữ. Sự chính xác phải đi cùng tốc độ, sức hấp dẫn và khả năng đối thoại. Các nền tảng số cần minh bạch hơn về thuật toán, kịp thời xử lý nội dung giả mạo; cơ quan chức năng xử lý nghiêm hành vi cố ý bịa đặt, xuyên tạc gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, nguyên tắc tối thiểu là không vội tin, không vội chia sẻ, không tiếp tay cho nội dung chưa được kiểm chứng. Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW và Kết luận số 89-KL/TW của Bộ Chính trị phải gắn với xây dựng “sức đề kháng” xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực.
Một dân tộc có thể khép lại hận thù, nhưng không được phép đánh mất ký ức; có thể hòa hợp, nhưng không thể hòa tan chân lý. Bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc được đánh đổi bằng biết bao sự hi sinh xương máu của cha anh đi trước mà còn là giữ vững niềm tin và quyền tự quyết của Việt Nam trên hành trình đi tới tương lai.
