Tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 20/01/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm đã trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Báo cáo chính trị xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược; đồng thời, nhấn mạnh Chương trình hành động đã được cụ thể hóa theo hướng có thể triển khai ngay trong thực tiễn. Tinh thần cốt lõi của toàn bộ hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp trong Báo cáo chính trị được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, với yêu cầu xuyên suốt: lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả. Đây không chỉ là phương châm hành động mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức thực hiện của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy thực thi làm thước đo
Báo cáo chính trị thẳng thắn chỉ rõ thể chế vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, song cũng đồng thời là “đột phá của đột phá” nếu được cải cách đúng hướng và thực thi nghiêm túc. Trong điều kiện phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành chính sách đúng, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện có hiệu quả. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, được đặt ở vị trí trung tâm của tiến trình đổi mới quản trị quốc gia.
Báo cáo nhấn mạnh đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Việc kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính, đẩy mạnh số hóa toàn diện và liên thông dữ liệu cho thấy tư duy cải cách thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Thực thi hiệu quả, đo lường bằng thời gian và chi phí xã hội chính là tiêu chí quan trọng để khắc phục tình trạng "Luật thì đúng mà làm thì khó", "trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng", "trên nóng, dưới lạnh", "nói nhiều, làm ít", "quyết sách đúng nhưng thực thi chậm" (1), qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân.
Thứ hai, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn
Báo cáo chính trị khẳng định rõ yêu cầu phát triển nhanh nhưng phải bền vững, không đánh đổi môi trường, công bằng xã hội và tương lai phát triển lâu dài. Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo là một lựa chọn chiến lược mang tính tất yếu.
Hoàn thiện quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch ngành nhằm tạo không gian phát triển đồng bộ; phát triển công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các cực tăng trưởng, vùng kinh tế trọng điểm và các đô thị, đặc khu kinh tế thế hệ mới có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Báo cáo cũng nhấn mạnh yêu cầu “chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng được triển khai quyết liệt, bài bản, gắn với an ninh năng lượng, an ninh môi trường và yêu cầu cạnh tranh. Phát triển kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và chủ động thích ứng với các chuẩn mực mới của thương mại, đầu tư toàn cầu” (2). Trong mô hình này, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô và dẫn dắt, còn kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển
Báo cáo chính trị đặt khoa học và công nghệ vào vị trí then chốt trong chiến lược phát triển đất nước, coi đây là nền tảng nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và tự chủ quốc gia: “thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới” (3) Chuyển đổi số quốc gia được xác định là nhiệm vụ mang tính toàn diện, bao trùm cả Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.
Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh phát triển công nghệ chiến lược, xây dựng hạ tầng số và dữ liệu số, bảo đảm an ninh mạng và an toàn dữ liệu. Đồng thời, muốn tạo đột phá về khoa học và công nghệ, “phải bắt đầu từ con người và cơ chế” (4): trọng dụng nhân tài, đánh giá bằng sản phẩm và hiệu quả, cải cách cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy hợp tác công - tư. Khoa học, công nghệ không thể tách rời đời sống mà phải phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp, góp phần giảm chi phí xã hội và tạo giá trị gia tăng mới.
Thứ tư, văn hóa và con người là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển
Báo cáo chính trị thể hiện rõ tư duy phát triển toàn diện, trong đó con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết.
Khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển; nuôi dưỡng các giá trị nhân văn như trung thực, trách nhiệm, kỷ luật, nghĩa tình là nền tảng để xây dựng xã hội bền vững. Báo cáo nhấn mạnh phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, an sinh xã hội theo hướng bao trùm, công bằng, hiệu quả; bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, để đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao. Do vậy, muốn “Phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hoá” (5).
Thứ năm, quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia
Báo cáo chính trị khẳng định rõ “hòa bình, ổn định là điều kiện tiên để phát triển” (6). Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài.
Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; kiên định độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế. Báo cáo cũng mở rộng khái niệm an ninh trong bối cảnh mới, “không chỉ là an ninh biên giới, lãnh thổ; mà còn là "an ninh chế độ, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực..." (7), thể hiện tư duy an ninh toàn diện và hiện đại. Từ đó, khẳng định “phát triển bền vững và tự chủ chiến lược phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát”(8).
Thứ sáu, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”
Báo cáo chính trị khẳng định “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi” (9) của cách mạng Việt Nam.Do đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên trì xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; kiểm soát chặt chẽ quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liệu, tiêu cực được đặt ra với yêu cầu cao hơn.
Công tác cán bộ phải được thực hiện thực chất, minh bạch, “đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong Nhân dân” (10); kiên quyết loại bỏ tư duy cục bộ, chạy chức, chạy quyền; đồng thời, có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Đây là điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Thứ bảy, xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển
Báo cáo chính trị hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội phát triển hài hòa, trong đó kỷ cương pháp luật được đề cao, đạo đức xã hội được củng cố, văn hóa ứng xử được nâng cao. Trọng tâm là cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội; bảo đảm an ninh con người và an toàn trong đời sống. Do đó, “để đất nước, dân tộc phát triển bền vững thì chúng ta cần xây dựng một xã hội lành mạnh về đạo đức, kỷ cương về pháp luật, văn hoá trong ứng xử, văn minh trong quản trị, an toàn trong đời sống, tiến bộ trong phát triển” (11).
Thứ tám, đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng sức mạnh quốc gia
Báo cáo chính trị tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn lực to lớn và bền vững của cách mạng Việt Nam, “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường” (12). Việc phát huy dân chủ gắn với kỷ cương; bảo đảm hài hòa lợi ích; tạo sự đồng thuận xã hội cao chính là cơ sở để huy động và phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tám nội dung trọng tâm của các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam mà đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên phiên khai mạc Đại hội đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và quyết tâm hành động mạnh mẽ của Đảng. Việc nhấn mạnh yêu cầu đo lường bằng kết quả không chỉ là cam kết chính trị trước Nhân dân, mà còn là lời hiệu triệu hành động, mở ra con đường hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới; “Đại hội XIV là Đại hội của niềm tin và khát vọng, của đột phá và hành động, của kỷ luật và sáng tạo, của đoàn kết và phát triển”./.
Tài liệu trích dẫn từ (1) đến (12: Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo về các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, https://daihoidang.vn/tong-bi-thu-to-lam-trinh-bay-bao-cao-cua-bch-tu-dang-khoa-xiii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-post5904.html, ngày 20/01/2026.
