
Cơ sở tư tưởng và phương pháp luận
Lúc sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá sự trưởng thành của một đảng cách mạng thông qua việc dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa: “Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm” [1]. Bởi vậy, không có cá nhân hay tổ chức nào tuyệt đối hoàn thiện, nên không thể quy kết trách nhiệm hay phủ nhận thành quả khi ai đó mắc khuyết điểm được.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa dựa trên sự dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”. Đảng đã mạnh dạn chỉ ra những khuyết điểm trong chủ trương, tổ chức thực hiện, đặc biệt là biểu hiện nóng vội, chủ quan, duy ý chí, làm trái quy luật khách quan. Vận dụng trong công cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sau 01 năm vận hành, mô hình tổ chức mới đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng nhưng cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới, những điểm nghẽn cần tiếp tục khơi thông. Trong Hội nghị sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu không được chủ quan, thỏa mãn với thành quả đạt được mà phải tập trung vào bảy nhóm điểm nghẽn, chuyển trọng tâm từ "sắp xếp bộ máy" sang "nâng cao chất lượng vận hành".
Tiếp tục hoàn thiện từ tổng kết thực tiễn
Thực tiễn cũng cho thấy các cuộc cải cách không phải là điểm kết thúc mà là khởi đầu của quá trình tự hoàn thiện liên tục. Những vấn đề về thể chế, năng lực thực thi, quản trị số và bảo đảm nguồn lực tiếp tục đặt ra yêu cầu phải tổng kết thực tiễn một cách khách quan, khoa học để kịp thời bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện mô hình. Thực tiễn vận hành là thước đo khách quan nhất để đánh giá hiệu quả cải cách và xác định các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế bởi khoảng cách giữa cải cách bộ máy tổ chức và hoàn thiện thể chế vẫn là thách thức lớn nhất. Theo Báo cáo của Đảng uỷ Chính phủ, mặc dù hệ thống pháp luật đã tạo hành lang pháp lý bước đầu cho bộ máy mới, song quá trình luật hóa và sửa đổi các quy định chuyên ngành chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Đến tháng 5/2026, vẫn còn khoảng 550 văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới; trong đó có 129 văn bản liên quan trực tiếp đến vận hành mô hình chính quyền 3 cấp cần hoàn thiện trước tháng 3/2027 [2]. Điều này cho thấy nhiều lĩnh vực vẫn tồn tại tình trạng phân cấp về thẩm quyền nhưng chưa đồng bộ về cơ sở pháp lý, làm giảm hiệu quả vận hành của bộ máy mới. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đẩy nhanh hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm mọi chủ trương cải cách đều được chuyển hóa kịp thời thành các quy định pháp luật khả thi.
Thứ hai, nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, nhất là ở cấp xã. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, cấp xã là trung tâm vận hành trực tiếp với khối lượng công việc lớn hơn nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, năng lực đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; phần lớn cán bộ vẫn được hình thành từ nguồn cán bộ cấp xã cũ (68,8%) [2], trong khi nhiều địa phương thiếu chuyên viên có trình độ chuyên sâu về đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp và công nghệ thông tin. Công tác bố trí cán bộ sau sắp xếp bước đầu còn mang tính cơ học, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chưa đủ để bù đắp khoảng trống về kỹ năng quản trị hiện đại và xử lý công việc trên môi trường số. Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ bố trí nhân sự sang phát triển năng lực thực thi, gắn vị trí việc làm với đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá theo kết quả đầu ra.
Thứ ba, xây dựng nền tảng quản trị số và dữ liệu liên thông phục vụ vận hành bộ máy. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo nền tảng quan trọng cho mô hình mới, nhưng hạ tầng số và dữ liệu vẫn chưa hình thành một hệ thống thống nhất trên phạm vi cả nước. Sự chênh lệch về điều kiện công nghệ giữa các vùng miền còn khá lớn; nhiều phần mềm chuyên ngành chưa được thiết kế phù hợp với quy trình xử lý của mô hình chính quyền mới; tỷ lệ thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, tỷ lệ chưa cài đặt chữ ký số còn cao, trong khi dữ liệu giữa các ngành và các cấp chưa thực sự liên thông theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống". Những hạn chế này làm giảm hiệu quả điều hành trên môi trường số và ảnh hưởng đến chất lượng cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia thống nhất, hoàn thiện hạ tầng số và đồng bộ hóa các hệ thống thông tin để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực nâng cao hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả quản trị quốc gia.
Thứ tư, bảo đảm đồng bộ các nguồn lực để mô hình mới phát huy hiệu quả bền vững. Thực tiễn một năm vận hành cho thấy hiệu quả của mô hình tổ chức không chỉ phụ thuộc vào việc sắp xếp bộ máy mà còn phụ thuộc vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Tiến độ xử lý hơn 11.000 cơ sở nhà, đất dôi dư còn chậm, gây lãng phí tài sản công [2]; nhiều đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp vẫn chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô, ranh giới hành chính ở một số nơi chưa phù hợp với không gian phát triển, ảnh hưởng đến quy hoạch, thu hút đầu tư và tổ chức cung ứng dịch vụ công. Điều đó cho thấy cải cách tổ chức cần tiếp tục gắn với tái cơ cấu nguồn lực, xử lý hiệu quả tài sản công, hoàn thiện quy hoạch đơn vị hành chính và bảo đảm các điều kiện phát triển lâu dài, qua đó tạo nền tảng để mô hình chính quyền mới vận hành ổn định và phát huy hiệu quả bền vững.
Sau 01 năm vận hành, mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị đã đồng thời kiểm nghiệm năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện của hệ thống chính trị trong thực tiễn. Tiếp tục hoàn thiện mô hình không phải là phủ nhận thành quả đã có, mà là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển. Kiên trì tổng kết thực tiễn, kịp thời điều chỉnh những bất cập và không ngừng nâng cao chất lượng vận hành sẽ tạo động lực để bộ máy mới hoạt động ngày càng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 548.
- Ban Chấp hành Trung ương (2026), Kỷ yếu Hội nghị Sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, tr. 6-7.
