Năm 2025, Bộ Chính trị ban hành 2 Nghị quyết về kinh tế: Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, thể hiện tư duy song trùng chiến lược trong phát triển kinh tế ở Việt Nam. Hai nghị quyết xác lập mối quan hệ bổ trợ, cộng hưởng giữa hai khu vực kinh tế chủ yếu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và ổn định vĩ mô, còn kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Sự kết hợp này tạo lực đẩy tổng hợp cho nền kinh tế bứt tốc, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng cao gắn với phát triển bền vững, bao trùm.

Hai Nghị quyết ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về mô hình tăng trưởng và cấu trúc nền kinh tế Việt Nam. Hai nghị quyết không tồn tại như những định hướng riêng rẽ, mà hình thành nên một chỉnh thể thống nhất, phản ánh rõ nét cách tiếp cận “song trùng chiến lược” của Đảng trong tổ chức và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở đó, kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước không đứng ở hai cực đối lập, mà cùng đảm nhận những vai trò khác nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên lực đẩy tổng hợp cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, việc xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, giữa khu vực công và khu vực tư luôn là bài toán khó. Những mô hình cực đoan, hoặc tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, hoặc buông lỏng vai trò điều tiết, dẫn dắt, đều để lại những hệ lụy lâu dài cho tăng trưởng và ổn định xã hội. Việt Nam, với đặc thù của một nền kinh tế đang phát triển, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn phải bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi một cách tiếp cận cân bằng, linh hoạt và có tính biện chứng cao. Chính trong bối cảnh đó, việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc thiết kế một cấu trúc phát triển kinh tế vừa năng động, vừa ổn định, vừa có khả năng bứt phá, vừa bảo đảm phát triển bền vững.

Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là bước khẳng định mạnh mẽ và rõ ràng nhất từ trước đến nay về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế này trong nền kinh tế quốc dân. Việc xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế không chỉ mang ý nghĩa khuyến khích về mặt tinh thần, mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản trong nhận thức và tư duy phát triển. Kinh tế tư nhân không còn được nhìn nhận chủ yếu như khu vực “bổ sung” hay “tham gia”, mà trở thành trung tâm của tăng trưởng, của đổi mới sáng tạo và của quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thực tiễn bốn thập kỷ đổi mới cho thấy, khu vực tư nhân là nơi hấp thụ và lan tỏa nhanh nhất các tín hiệu của thị trường, là khu vực có khả năng huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, đồng thời là chủ thể năng động trong đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và các chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc, chính khu vực tư nhân với tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao sẽ là lực lượng đi đầu trong việc khai thác các cơ hội mới, từ chuyển đổi số, kinh tế xanh đến các mô hình kinh doanh sáng tạo.

Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ đặt ra những mục tiêu cụ thể về số lượng doanh nghiệp, quy mô đóng góp vào GDP hay tạo việc làm, mà quan trọng hơn là nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Đó là yêu cầu hình thành đội ngũ doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, có trách nhiệm xã hội và gắn bó với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Tinh thần xuyên suốt của nghị quyết là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, từ việc kiểm soát hành chính sang bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản và môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch.

Trong khi đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo và “kiến tạo phát triển” của khu vực này trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khái niệm “chủ đạo”, “kiến tạo” trong nghị quyết không được hiểu theo nghĩa bao trùm hay dàn trải, mà được đặt trong một cách tiếp cận mới, gắn với chất lượng, hiệu quả và vai trò dẫn dắt. Kinh tế nhà nước được xác định là lực lượng giữ vai trò then chốt trong những lĩnh vực nền tảng, thiết yếu của nền kinh tế, những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với ổn định vĩ mô, an ninh kinh tế, quốc phòng - an ninh và chủ quyền quốc gia.

Trong mô hình và cấu trúc phát triển mới, kinh tế nhà nước không làm thay thị trường, cũng không cạnh tranh bằng mọi giá với khu vực tư nhân, mà tập trung vào việc đầu tư, dẫn dắt và tạo nền tảng cho phát triển dài hạn. Những lĩnh vực như kết cấu hạ tầng chiến lược, năng lượng, tài chính - tiền tệ, tài nguyên quan trọng hay dịch vụ công thiết yếu đòi hỏi vai trò tiên phong của Nhà nước, không chỉ vì hiệu quả kinh tế trước mắt, mà còn vì lợi ích chiến lược lâu dài của quốc gia. Đồng thời, Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản trị doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu hình thành những doanh nghiệp nhà nước có tầm khu vực và quốc tế.

Điểm đặc sắc và có ý nghĩa chiến lược nhất của hai Nghị quyết nằm ở cách thức thiết kế mối quan hệ giữa hai khu vực kinh tế này. Thay vì đặt kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong trạng thái so sánh hơn - kém hay thay thế lẫn nhau, các nghị quyết đã xác lập một mối quan hệ “bổ trợ và cộng hưởng”. Kinh tế nhà nước mạnh sẽ tạo nền tảng ổn định, niềm tin và định hướng chiến lược cho nền kinh tế, trong khi kinh tế tư nhân lớn mạnh sẽ tạo ra động lực tăng trưởng, đổi mới và năng suất. Sự kết hợp này, nếu được vận hành đúng hướng, sẽ tạo nên một cấu trúc phát triển vừa linh hoạt, vừa vững chắc, đủ khả năng ứng phó với những cú sốc bên ngoài và tận dụng hiệu quả các cơ hội mới.

Tuy nhiên, để “song trùng chiến lược” này thực sự phát huy hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải chuyển hóa tinh thần nghị quyết thành hành động cụ thể thông qua cải cách thể chế và đổi mới quản trị nhà nước. Một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo cao là yếu tố then chốt để cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân yên tâm đầu tư dài hạn. Quản lý nhà nước trong giai đoạn mới không dừng lại ở việc ban hành quy định, mà phải hướng tới việc đồng hành, hỗ trợ và tháo gỡ kịp thời những điểm nghẽn trong thực tiễn phát triển.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu đặt ra là phải thực sự vận hành theo nguyên tắc thị trường, tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu, nâng cao hiệu quả và trách nhiệm sử dụng vốn công. Đối với khu vực tư nhân, cần có những chính sách đủ mạnh và nhất quán để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ lên doanh nghiệp vừa và lớn, từ tham gia thị trường nội địa sang vươn ra khu vực và toàn cầu. Vai trò của bộ máy quản lý, đặc biệt ở cấp cơ sở, trở nên hết sức quan trọng trong việc hiện thực hóa tinh thần kiến tạo, phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Nhìn về tương lai, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW mang theo những kỳ vọng lớn lao đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khi kinh tế tư nhân được khơi thông đầy đủ tiềm năng và kinh tế nhà nước được củng cố về chất lượng và vai trò dẫn dắt, nền kinh tế Việt Nam sẽ có cơ sở vững chắc để hình thành một lực đẩy tổng hợp, đủ mạnh để bứt phá trong giai đoạn tới. Song trùng chiến lược này không chỉ nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong ngắn hạn, mà còn hướng tới việc tạo dựng một mô hình phát triển cân bằng, bền vững và bao trùm hơn.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao, phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số trong những giai đoạn then chốt, đồng thời phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, sự cộng hưởng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân càng trở nên có ý nghĩa sống còn. Đây chính là con đường để khai thác tối đa các tiềm năng và lợi thế của nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, đồng thời bảo đảm rằng thành quả tăng trưởng được phân bổ hài hòa, góp phần củng cố niềm tin xã hội và sự đồng thuận phát triển.

Có thể khẳng định, với Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW Đảng đã đặt ra một khung khổ chiến lược rõ ràng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện một cách nhất quán, quyết liệt và sáng tạo, để “song trùng chiến lược” này thực sự trở thành động lực mạnh mẽ đưa nền kinh tế Việt Nam bứt tốc, phát triển nhanh, bền vững và vững bước trên con đường hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045.