Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học gắn với thực tiễn, Vĩnh Long đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, chuyển đổi số và quản trị; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, thúc đẩy phát triển bền vững.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất”[1] - một chỉ dẫn giản dị nhưng sâu sắc, đặt nền tảng vững chắc cho cách tiếp cận khoa học gắn liền với thực tiễn đời sống. Vận dụng tư tưởng của Người, tỉnh Vĩnh Long luôn kiên trì lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, coi hiệu quả phục vụ Nhân dân là thước đo cao nhất, từng bước đưa kết quả nghiên cứu đi thẳng vào đồng ruộng, hợp tác xã, công sở và đời sống dân sinh.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, tỉnh Vĩnh Long đang tập trung đưa khoa học và công nghệ vào đời sống, trọng tâm là tạo bước bứt phá trong kinh tế nông nghiệp và nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong nông nghiệp, việc chuyển giao kỹ thuật đã giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị các cây trồng chủ lực như lúa, cam sành, chôm chôm. Đáng chú ý, việc số hóa thông qua ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trên nền tảng Map4D tại các vùng nuôi tôm công nghệ cao đã giúp người dân chủ động kiểm soát môi trường nuôi, giảm thiểu rủi ro và nâng cao giá trị thương phẩm.

Bên cạnh đó, địa phương cũng nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và phát triển chăn nuôi tuần hoàn. Bước đi này không chỉ giúp nông dân tiết kiệm tối đa chi phí đầu vào mà còn giải quyết bài toán môi trường, từng bước định hình nền nông nghiệp xanh và bền vững cho Vĩnh Long trong giai đoạn mới.

ẢnhSinh viên Vĩnh Long thực hành các công trình về ứng dụng khoa học công nghệ (Nguồn: Báo Nhân dân)

Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tỉnh Vĩnh Long đang đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện với tinh thần “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”[2], lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của mọi hoạt động. Thực hiện số hóa quyết liệt các thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tỉnh đã góp phần giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian, đồng thời biến công nghệ thành công cụ đắc lực để đưa nâng cao hiệu quả quản trị phục vụ đời sống dân sinh. Chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp của tỉnh “đạt 97,15/100 điểm, xếp hạng 1/34 tỉnh, thành phố trong cả nước”[3].

Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng nâng cao năng lực số cho cộng đồng, hiện thực hóa lời dạy của Bác: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất”. Sự lan tỏa của các mô hình số hóa trong y tế, văn hóa không chỉ nâng cao mức độ hài lòng của người dân mà còn khẳng định giá trị sâu sắc từ tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi ra”[4], đưa chuyển đổi số thực sự trở thành phương thức quản trị hiện đại và nhân văn.

Không chỉ dừng lại ở ứng dụng trong sản xuất và quản trị, Vĩnh Long đang từng bước phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, coi đây là động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản đến chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh.

Cùng với đó, công tác hoàn thiện thể chế, chính sách được quan tâm, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long đã chủ động tham mưu UBND tỉnh, ban hành 09 văn bản quy phạm pháp luật, 49 văn bản chỉ đạo, góp phần đưa chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) đạt 38,93 điểm, xếp hạng 17/34 cả nước và đứng thứ 2 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long[5].

Nhiều mô hình, sản phẩm sáng tạo đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, văn hóa và xây dựng thương hiệu. Tiêu biểu là nhiệm vụ “Xây dựng thương hiệu tỉnh Vĩnh Long”, từ đó hình thành Đường gốm đỏ và hoa dài nhất Việt Nam, thu hút hơn 30.000 lượt khách trong dịp Tết[6], tạo điểm nhấn mới cho hình ảnh du lịch và bản sắc văn hóa địa phương. Thành tựu này minh chứng rằng khoa học, công nghệ không chỉ phục vụ sản xuất, mà còn trở thành công cụ kiến tạo thương hiệu và mở rộng không gian tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch.

Những kết quả đạt được cho thấy, tại  Vĩnh Long, khoa học, công nghệ đang chuyển dịch mạnh mẽ từ vai trò hỗ trợ sang vai trò động lực, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc ứng dụng khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế như: Nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chưa huy động hiệu quả nguồn lực xã hội hóa; việc triển khai, nhân rộng một số mô hình sau nghiệm thu còn gặp khó khăn; công tác theo dõi, đánh giá kết quả ứng dụng tại một số cơ sở chưa thực sự kịp thời.

Để đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trong thời gian tới, Vĩnh Long cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và ứng dụng kết quả nghiên cứu, xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học công nghệ đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, khai thác và ứng dụng.

Thứ hai, tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, gắn công tác nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, bảo đảm mỗi nhiệm vụ khoa học đều có địa chỉ ứng dụng cụ thể và có khả năng nhân rộng.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, khuyến khích và tạo động lực để khu vực doanh nghiệp tham gia đầu tư cho khoa học công nghệ, từng bước giảm sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

Thứ tư, quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ, trí thức khoa học, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ ở cơ sở, bảo đảm đưa nhanh tiến bộ khoa học vào thực tiễn.

Vận dụng nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh, tỉnh Vĩnh Long đã và đang từng bước hiện thực hóa quan điểm “khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất”. Từ các mô hình nông nghiệp xanh, giải pháp chuyển đổi số đến việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ không chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ mà đã thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, xanh và bền vững trong giai đoạn phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long./.

 

[1] Trích bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ngày 18/5/1963

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr 51.

[3] Tỉnh ủy Vĩnh Long, ngày 13/6/2026, Báo cáo số 263-BC/TU sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.404.

[5] Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Long, Báo cáo số 440/BC-SKHCN, ngày 15/12/2025 tổng kết công tác khoa học và công nghệ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

[6] Trung tâm Ứng dụng khoa học – công nghệ tỉnh Vĩnh Long, Báo cáo số 40/BC-TTƯDKHCN, ngày 09/12/2024 Kết quả thu thập thông tin về ứng dụng kết quả nhiệm vụ KH&CN năm 2024.