Nội dung “Xây dựng Đảng văn minh” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

    (1) Văn minh trong tư duy lãnh đạo

   Văn minh trong tư duy lãnh đạo là nền tảng cốt lõi của xây dựng Đảng văn minh, thể hiện ở trình độ phát triển cao về nhận thức chính trị, năng lực lý luận và khả năng thích ứng sáng tạo với thực tiễn. Đây không chỉ là yêu cầu về “đúng” trong đường lối, mà còn là yêu cầu về “tầm” trong tư duy, bảo đảm cho Đảng đủ khả năng định hướng sự phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.

    Trước hết, văn minh trong tư duy lãnh đạo đòi hỏi phải “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(1) đồng thời không ngừng đổi mới tư duy trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan. Đó là sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt, giữa kiên định và sáng tạo; khắc phục cả hai khuynh hướng bảo thủ, trì trệ và nóng vội, chủ quan. Một tư duy lãnh đạo văn minh không giáo điều, không áp đặt mà luôn vận động, phát triển cùng thực tiễn. Hai là, tư duy lãnh đạo văn minh phải mang tính khoa học, hệ thống và chiến lược. Điều này thể hiện ở khả năng dự báo, hoạch định đường lối dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và phân tích dữ liệu. Trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, tư duy lãnh đạo không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải dựa trên bằng chứng, dữ liệu và các phương pháp phân tích hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng quyết sách và hạn chế rủi ro trong quá trình lãnh đạo. Ba là, văn minh trong tư duy lãnh đạo còn thể hiện ở việc lấy “lấy con người làm trung tâm”(2) của phát triển, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân và hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Tư duy lãnh đạo văn minh không xa rời thực tiễn, không duy ý chí, mà gắn bó mật thiết với đời sống xã hội. Bốn là, tư duy lãnh đạo văn minh đòi hỏi phải mở rộng tầm nhìn, chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng cần có cách tiếp cận linh hoạt, cập nhật các mô hình phát triển và quản trị tiên tiến, đồng thời giữ vững bản sắc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là biểu hiện của một tư duy vừa hiện đại, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng. Năm là, văn minh trong tư duy lãnh đạo còn thể hiện ở ý thức tự đổi mới, tự chỉnh đốn, dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật. “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới”(3). Một Đảng có tư duy lãnh đạo văn minh là một Đảng không ngừng học hỏi, không ngừng hoàn thiện, luôn chủ động thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của tình hình.

    (2) Văn minh trong tổ chức và phương thức hoạt động

    Văn minh trong tổ chức và phương thức hoạt động là biểu hiện trực tiếp, sinh động của xây dựng Đảng văn minh trong thực tiễn; phản ánh mức độ hoàn thiện về thể chế tổ chức, kỷ luật, kỷ cương và cách thức Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị. Nội dung này được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV, gắn với yêu cầu xây dựng Đảng cầm quyền trong giai đoạn mới.

     Trước hết, văn minh trong tổ chức đòi hỏi việc “sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”(4) bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng tổ chức, từng cá nhân. Việc phân định thẩm quyền phải minh bạch, tránh chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ trống đồng thời gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đây chính là cơ sở để nâng cao hiệu lực lãnh đạo, khắc phục tình trạng quan liêu, bao biện hoặc buông lỏng lãnh đạo. Hai là, văn minh trong tổ chức còn thể hiện ở việc “kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(5) nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất. Tuy nhiên, “văn minh” không chỉ là chấp hành mà còn là nâng cao chất lượng thực hiện các nguyên tắc đó theo hướng thực chất, tránh hình thức, chiếu lệ. Sinh hoạt Đảng phải trở thành môi trường dân chủ, thẳng thắn, xây dựng, có tranh luận trên tinh thần khoa học và trách nhiệm. Ba là, văn minh trong phương thức hoạt động thể hiện ở việc đổi mới mạnh mẽ cách thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, định hướng lớn; thông qua thể chế hóa thành pháp luật, chính sách; thông qua công tác cán bộ và nêu gương, chứ không làm thay chức năng quản lý của Nhà nước. Bốn là, trong điều kiện chuyển đổi số và xây dựng nền quản trị hiện đại, văn minh trong phương thức hoạt động đòi hỏi phải ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, số hóa quy trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng giám sát. Các quyết định lãnh đạo cần dựa trên dữ liệu, có căn cứ khoa học, có cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời. Đây là bước chuyển từ phương thức lãnh đạo truyền thống sang phương thức lãnh đạo hiện đại. Năm là, văn minh trong tổ chức và phương thức hoạt động còn thể hiện ở việc đề cao trách nhiệm giải trình, gắn quyền hạn với trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Mọi hoạt động lãnh đạo phải hướng tới hiệu quả thực chất, “Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”(6). Đồng thời, phải tăng cường cơ chế để Nhân dân tham gia giám sát, phản biện, qua đó nâng cao tính công khai và tính chính danh của sự lãnh đạo. Sáu là, văn minh trong tổ chức và phương thức hoạt động đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa kỷ luật nghiêm minh với tính linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn, “chuyển từ bị động sang chủ động, nắm chắc tình hình”(7). Đó là một hệ thống tổ chức chặt chẽ nhưng không cứng nhắc; một phương thức hoạt động có nguyên tắc nhưng không bảo thủ; luôn thích ứng kịp thời với yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

      (3) Văn minh trong đạo đức và văn hóa chính trị

     Văn minh trong đạo đức đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”(8) và các chuẩn mực đạo đức cách mạng được nêu tại Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị “Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, những tác động tiêu cực như chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có nguy cơ gia tăng. Vì vậy, xây dựng Đảng văn minh trước hết phải bắt đầu từ việc giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là “gốc” của mọi vấn đề. Bên cạnh đó, văn minh trong đạo đức còn thể hiện ở tính nêu gương, nhất là của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu. Uy tín của Đảng không chỉ được tạo dựng bằng đường lối đúng đắn mà còn bằng tấm gương cụ thể của từng cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ. Nêu gương phải trở thành phương thức lãnh đạo quan trọng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân và nâng cao tính thuyết phục trong lãnh đạo. Văn minh trong văn hóa chính trị thể hiện ở phong cách lãnh đạo dân chủ, khoa học, tôn trọng pháp luật, tôn trọng Nhân dân và đề cao đối thoại. Đồng thời, đó còn là văn hóa ứng xử chuẩn mực trong Đảng và trong hệ thống chính trị: đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm, minh bạch.

     Có thể thấy, văn minh trong đạo đức và văn hóa chính trị gắn chặt với yêu cầu kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Một Đảng văn minh là Đảng kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xử lý nghiêm minh các vi phạm, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Đồng thời, phải xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh, trong đó cái đúng, cái tốt được bảo vệ và lan tỏa, cái sai, cái xấu bị lên án và loại bỏ. Trong bối cảnh chuyển đổi số và xã hội thông tin phát triển mạnh mẽ, văn minh trong văn hóa chính trị còn thể hiện ở năng lực truyền thông, khả năng tương tác và đối thoại với xã hội trên không gian số. Đảng phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; nâng cao tính “minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ”(9); đồng thời xây dựng hình ảnh đội ngũ cán bộ, đảng viên có phong cách ứng xử chuẩn mực, văn hóa cả trong đời sống hằng ngày và trên không gian mạng.

     Như vậy, văn minh trong đạo đức và văn hóa chính trị là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại: giữa giữ vững giá trị đạo đức cách mạng với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để hoàn thiện chuẩn mực ứng xử và phong cách lãnh đạo. Đây chính là nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng nâng cao năng lực cầm quyền, xây dựng uy tín xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân.

       (4) Văn minh trong quan hệ với nhân dân

      Văn minh trong quan hệ với Nhân dân thể hiện ở việc nhất quán thực hiện quan điểm “dân là gốc”(10), “Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân”(11). Một Đảng văn minh là Đảng luôn đặt mình trong mối quan hệ “gắn bó mật thiết với nhân dân”(12), không xa rời thực tiễn đời sống xã hội. Văn minh trong quan hệ với Nhân dân đòi hỏi phải tôn trọng và phát huy thực chất quyền làm chủ của Nhân dân. Điều này thể hiện trước hết ở việc hoàn thiện cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chủ trương, chính sách; bảo đảm dân chủ đi đôi với kỷ cương, quyền lợi đi đôi với trách nhiệm. Không dừng lại ở hình thức, Đảng phải lãnh đạo để dân chủ trở thành động lực phát triển, tạo sự đồng thuận xã hội rộng rãi.

     Hai là, văn minh trong quan hệ với Nhân dân còn thể hiện ở thái độ lắng nghe, “Tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân và kịp thời giải quyết kiến nghị chính đáng, hợp pháp của Nhân dân”(13) và tiếp thu ý kiến Nhân dân một cách cầu thị, chân thành. Trong bối cảnh xã hội ngày càng đa dạng, thông tin đa chiều, Đảng phải chủ động thiết lập các kênh tương tác hiệu quả, nhất là trên không gian mạng để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. Đây là biểu hiện của một phương thức lãnh đạo hiện đại, gần dân, trọng dân. Ba là, văn minh trong quan hệ với Nhân dân gắn liền với trách nhiệm giải trình và tính minh bạch. Mọi hoạt động lãnh đạo phải được Nhân dân hiểu, Nhân dân giám sát và Nhân dân đánh giá. Đảng phải lãnh đạo để hệ thống chính trị hoạt động công khai, minh bạch, phục vụ Nhân dân; đồng thời xử lý nghiêm những biểu hiện quan liêu, xa dân, hách dịch, gây phiền hà cho Nhân dân. Đây chính là điều kiện để củng cố niềm tin và sự ủng hộ của Nhân dân đối với Đảng. Bốn là, văn minh trong quan hệ với Nhân dân còn thể hiện ở việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Đảng không chỉ lãnh đạo phát triển kinh tế mà còn phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân một cách toàn diện. Sự hài lòng và niềm tin của Nhân dân chính là thước đo cao nhất của hiệu quả lãnh đạo. Năm là, văn minh trong quan hệ với Nhân dân đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có phong cách gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ là người thực thi nhiệm vụ mà còn là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân. Phong cách ứng xử chuẩn mực, tận tụy, liêm chính của đội ngũ này chính là biểu hiện cụ thể, sinh động của Đảng văn minh trong đời sống xã hội./.

Chú thích và tài liệu tham khảo

(1), (2), (3), (4), (5), (7), (8), (9), (10), (11), (13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81; tr. 109; tr. 142; tr. 40; tr. 389, tr. 411, tr. 393; tr. 411; tr. 38; tr. 39; tr. 396

(6) Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/ guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/ content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua -dang-cong-san-viet-nam

(12) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb. Chinh trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 5