
Những vấn đề đặt ra đối với an ninh tôn giáo ở Việt Nam
Đảng, Nhà nước luôn xác định tôn giáo là một không gian đặc thù, có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Quan điểm này được khẳng định rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”1. Trải qua chiều dài lịch sử, tôn giáo luôn vận động, thích nghi, hòa quyện với các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam. Sự đa dạng hóa các hệ phái, cùng với sự phong phú, linh hoạt các hình thức sinh hoạt tôn giáo đã góp phần đáp ứng nhu cầu tinh thần chính đáng, đa tầng của Nhân dân.
Tuy nhiên, vấn đề tôn giáo đang tiềm ẩn nhiều tiêu cực đối với yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia. Các đối tượng phản động thực hiện âm mưu “tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số” ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Chúng lợi dụng thần quyền, bóp méo giáo lý và đưa ra những lời hứa ngon ngọt cùng hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ”, “tà đạo” biến tướng để lôi kéo, dụ dỗ đồng bào nhẹ dạ cả tin đi theo và tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.
Chúng sử dụng các kênh truyền thông như Facebook, Zalo, TikTok, Telegram, YouTube, blog cá nhân, hội nhóm kín, sử dụng công nghệ AI... để lan truyền thông tin sai lệch, cắt ghép nội dung, kích động tư tưởng cực đoan, gây nhiễu loạn nhận thức và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Mặt khác, các vấn đề liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự, tranh chấp nội bộ tôn giáo bị lợi dụng thổi phồng, đẩy thành điểm nóng có chủ đích để kích động. Đáng chú ý, các cáo buộc quốc tế khi dựa vào những nguồn tin không chính xác đã tạo ra những áp lực và sức ép trong quan hệ đối ngoại cũng như nguy cơ bất đồng giữa các quốc gia trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, an ninh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay không chỉ chịu tác động từ các yếu tố nội sinh mà còn gắn chặt với môi trường quốc tế. Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp cận toàn diện, linh hoạt và hiệu quả hơn trong quản trị và bảo đảm an ninh trong lĩnh vực này.
Cách tiếp cận an ninh tôn giáo trong Đại hội XIV của Đảng
Với cách tiếp cận mới, Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên chính thức đề cập và nhấn mạnh thuật ngữ:“an ninh tôn giáo”. Đại hội XIV yêu cầu:“Bảo đảm ngày càng vững chắc an ninh xã hội, an ninh tôn giáo, dân tộc, an ninh tại các địa bàn chiến lược, trọng điểm”2 và nhấn mạnh việc xử lý hài hòa các vấn đề tôn giáo. Như vậy, an ninh tôn giáo được coi là một thành tố trong tổng thể an ninh quốc gia. Đây là bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, đi kèm với tư duy hiện đại về quản trị tôn giáo và an ninh tôn giáo trước những chuyển biến của tình hình mới.
Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu bảo đảm ngày càng vững chắc an ninh tôn giáo tại các địa bàn chiến lược, trọng điểm, kiên quyết không để xảy ra "điểm nóng". Đồng thời, Đảng yêu cầu phải chủ động xử lý hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự gây bức xúc, thể hiện tư duy "phòng bệnh hơn chữa bệnh", chủ động ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ. Điều này thể hiện sự chủ động kiến tạo và kiểm soát rủi ro, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực.
Đồng thời, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu: “đổi mới phương thức lãnh đạo, vận động, tập hợp và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về tôn giáo; tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo”3. Qua đó, thể hiện tính đột phá, sát thực tiễn và thẳng thắn của Đảng khi nhìn nhận các điểm yếu kém còn hiện hữu, chủ động phòng ngừa, giải quyết các vấn đề bức xúc của tôn giáo, bảo đảm sự tiến bộ,phát triển bền vững vì đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Một số định hướng và giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng minh bạch, đồng bộ và thích ứng với bối cảnh mới. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng hiện đại, khả thi, vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân, vừa tạo hành lang pháp lý vững chắc để phòng ngừa và xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý nhà nước về tôn giáo theo hướng quản trị xã hội hiện đại, nâng cao năng lực dự báo, lấy phòng ngừa là trọng tâm. Cần phân tích cơ sở dữ liệu, quản lý số hóa trên hệ thống thông tin công nghệ. Xây dựng hệ thống giám sát hiện đại, chủ động kịp thời nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn từ sớm, từ không để hình thành “điểm nóng”.
Thứ ba, tăng cường vững chắc sự hiệp lực, gắn kết của “thế trận an ninh tôn giáo” với thế trận an ninh Nhân dân và thế trận lòng dân. Phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ đồng hành cùng dân tộc. Đồng thời, phối hợp, gắn kết, hiệp lực của hệ thống các cơ quan, lực lượng, tổ chức trong vận hội mới, tham gia xây dựng, phát triển, giữ vững an ninh quốc gia.
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng toàn diện, chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức, tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết chuyên sâu về tôn giáo, về đời sống giáo dân. Bên cạnh đó, cần trang bị năng lực sử dụng công nghệ và ngoại ngữ, kỹ năng dân vận, khả năng nhận biết, nắm bắt những vấn đề nhạy cảm trong thực tiễn, để chủ động xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh.
Thứ năm, chủ động nhận diện sớm, đấu tranh, phòng ngừa các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia, đặc biệt trên không gian mạng. Chú trọng nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những thông tin độc hại, xuyên tạc lan truyền trên môi trường số; xây dựng phát triển mạnh các kênh truyền thông chính thống định hướng dư luận. Chủ động ngoại giao tôn giáo, phản bác mạnh mẽ những cáo buộc sai lệch, cung cấp thông tin về tình hình, chính sách tôn giáo ở Việt Nam.
_________________________
1. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập 1, tr. 316.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H à Nội,2026, tập 1, tr. 395, 396.
