
Để gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách đạt hiệu quả, Đại hội XIV của Đảng đề ra các định hướng nhiệm vụ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt như sau:
Thứ nhất, “Xây dựng kế hoạch nâng cao năng lực của hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng ở Trung ương và địa phương. Thực hiện các chương trình nghiên cứu chuyên sâu cập nhật xu thế phát triển của thời đại, phân tích thực tiễn Việt Nam phục vụ hoạch định chủ trương của Đảng”[1]. Bởi lẽ, để định hướng chính sách chính xác, khoa học thì ngoài các căn cứ pháp lý, chính trị phải dựa trên các căn cứ khoa học - kết quả của tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Đây là quan điểm xuyên suốt nhất quán của Đảng ta.
Thứ hai, “Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130); Tổng kết 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[2]. Mục đích của tổng kết thực tiễn nhằm góp phần bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới; hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; làm phong phú và tiến thêm một bước để hoàn thiện nền tảng tư tưởng của Đảng[3].
Thứ ba, “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới”[4]. Trên cơ sở tổng kết để nhận thức rõ, sâu sắc thêm sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới; chỉ ra những thành tựu, hạn chế trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam; khái quát chung những vấn đề đặt ra, bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, cùng với dự báo tình hình để đề xuất quan điểm, định hướng giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Nhờ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, Đảng ta đã hình thành nhận thức tổng quát về tám đặc trưng của xã hội xã hội xã hội chủ nghĩa trong mô hình chủ nghĩa xã Việt Nam; xác định rõ tám phương hướng lớn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam; mười mối quan hệ lớn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; ba trụ cột của chủ nghĩa xã hội Việt Nam[5].
Thứ tư, “xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu lý luận trọng điểm cấp quốc gia”[6] hình thành cơ sở khoa học; thực tiễn phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chẳng hạn Đại hội đã giao cho Hội đồng lý luận trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhiệm vụ “Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình khoa học trọng điểm đặc biệt cấp quốc gia xây dựng cơ sở khoa học; thực tiễn phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối, công tác lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của ban chấp hành trung ương Đảng, Bộ chính trị Ban Bí thư”,v.v..[7]. Đây là những chương trình nghiên cứu lý luận trọng điểm cấp quốc gia mà kết quả sẽ gắn kiền với định hướng chính sách của Đảng, Nhà nước.
Thứ năm, đối với hệ thống chính trị, Đại hội XIV “Nghiên cứu, hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức là văn minh” trong tình hình mới”[8]. Trên cơ sở đó ban hành quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ Đảng viên theo chức vụ và phát động tổ chức thực hiện phong trào nêu gương trong toàn hệ thống chính trị với cam kết chính trị đạo đức cá nhân hàng năm. Đồng thời nhờ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, Đảng ta đã bổ sung thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới là những bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Tổng kết thực tiễn công tác xây dựng Đảng, kết hợp nghiên cứu lý luận về xây dựng Đảng, Đảng ta đã hình thành năm nguyên tắc hoạt động của Đảng[9],v.v..
Đồng thời Đại hội XIV cũng đề ra nhiệm vụ: “Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, ban hành các nghị quyết, kết luận, quy định của Đảng để triển khai kịp thời các quyết sách chiến lược của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”[10]. Chẳng hạn như việc Đảng ta ban hành một loạt nghị quyết mang tính quyết sách chiến lược như Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết 59-NQ/TƯ; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW; Nghị quyết số 70-NQ/TW;v.v..
Thứ sáu, về kinh tế nhờ không ngừng tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới, trên cơ sở đổi mới sáng tạo liên tục trong tư duy lý luận và sự kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu mới nhất về lý luận của nhân loại, Đảng ta đã có sự phát triển nhận thức về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Đảng còn bổ sung nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Cũng nhờ gắn kết tổng kết thực tiễn viên cứu lý luận mà Đảng, Nhà nước ta đã có những định hướng chính sách đúng đắn về xây dựng và phát triển con người Việt Nam, chấn hưng đạo đức xã hội; xây dựng hệ giá trị quốc gia; hệ giá trị con người và văn hóa Việt Nam. Những vấn đề về quốc phòng an ninh cũng có những phát triển mới. Đảng, Nhà nước ta đề ra chủ trương, đường lối, chính sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; có đối sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh xung đột từ sớm, từ xa và kiểm soát tốt các nhân tố có thể gây bất lợi đột biến. Về công tác đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối, chính sách nâng tầm đối ngoại đạt kết quả nổi bật. Từ một nước bị bao vây, cấm vận đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới; 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia[11],v.v..
Đây là những minh chứng rõ nét nhất của quan điểm gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Tư tưởng này xuyên suốt và trở thành điểm nhấn quan trọng trong các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật; Hà Nội, Tập 1, tr.172.
[2] Sđd, Tập 1, tr.130.
[3] Sđd, Tập 2, tr.6, 7.
[4] Sđd, Tập 1, tr.131.
[5] Sđd,Tập 2, tr.30-41.
[6] Sđd, Tập 1, tr.172.
[7] Sđd, Tập 1, tr.245.
[8] Sđd, Tập 1, tr.173.
[9] Sđd, Tập 2, tr.88-98.
[10] Sđd, Tập 1, tr.151.
[11] Sđd, Tập 2, tr.131-138; 143-144.
