Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự kết thúc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở ra một giai đoạn mới cho công cuộc giành độc lập, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung, Điện Biên Phủ nói riêng bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Một trong những nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất là đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng với nội dung cốt lõi là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh (dựa vào sức mình là chính)
“Tự lực cánh sinh” –nội dung quan trọng của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng được thể hiện rõ trong Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Thường vụ Trung ương Đảng (25/11/1945), Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946) , “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946) và đồng chí Trường Chinh (Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng) giải thích rõ hơn trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” (xuất bản tháng 9/1947) và Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (02/1951).
Đường lối kháng chiến của Đảng được hoạch định trên cơ sở kế thừa truyền thống và kinh nghiệm đánh giặc giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta, vận dụng sáng tạo quan điểm chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và xuất phát từ thực tiễn tình hình đất nước và thế giới, khi bước vào cuộc chiến.
“Tự lực cánh sinh” – Dựa vào sức mình là chính, nghĩa là dựa vào những điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hòa trong nước, nhằm phát huy tới mức cao nhất sức mạnh toàn dân tộc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Tuy nhiên, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu cũng xác định: “tự lực cánh sinh” song không có nghĩa là không tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ của quốc tế, mà nếu có được thì chúng ta cũng sẽ tranh thủ để cùng với những điều kiện trong nước kết thúc sớm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sở di Đảng và Bác quyết định phải: “Tự lực cánh sinh” – Dựa vào sức mình là chính, vì những lý do chủ yếu sau:
Về mặt thực tiễn, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời, chưa có được sự công nhận, đặt quan hệ ngoại giao (chứ chưa nói tới giúp đỡ) của bất kỳ một nước hay tổ chức quốc tế nào. Ngay cả Liên Xô và Trung Quốc cũng chưa công nhận, đặt quan hệ ngoại giao và giúp đỡ chúng ta. Lý do là cách mạng Trung quốc chưa thành công (mãi tới 01/10/1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa mới ra đời); còn Liên Xô chưa giúp chúng ta vì nhiều lý do (Liên Xô đang lo khắc phục hậu quả sau chiến tranh thế giới thứ II – Liên Xô bị thiệt hại nặng nề nhất; Liên Xô đang trực tiếp giúp các nước Đông Âu xây dựng chủ nghĩa xã hội; Liên Xô đối phó với chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ…).

Đoàn xe thồ phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ (Ảnh tư liệu)
Nhớ lại chặng đường đầy gian khổ này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi giai đoạn 1946 -1950, mà chúng ta đã đi qua là “cuộc chiến trong vòng vây” - Nghĩa là, chúng ta không những không nhận được sự ủng hộ từ quốc tế mà còn bị bao vây tứ phía…
Trong bối cảnh ấy, tất yếu Đảng và Bác phải xác định “tự lực cánh sinh” khi xây dựng đường lối đương đầu với thực dân Pháp. Chỉ khi sang giai đoạn 1951 – 1954, Đảng ta và Bác mới quyết định tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế khi điều kiện cho phép. Cuối năm 1949, đầu năm 1950 Bác đã có chuyến thăm ngoại giao hết sức quan trọng đến 03 nước (Trung Quốc, Liên Xô và Hungari). Sau chuyến thăm này, không những chúng ta đã phá được thế bị bao vây, được các nước công nhận - Trung Quốc (18/1/1950); Liên Xô (30/1/1950); các nước Đông Âu (tháng 2/1950 trở đi), mà còn nhận được sự đồng tình ủng hộ cả vật chất và tinh thần của thế giới.
“Tự lực cánh sinh” – yếu tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
Với đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp đúng đắn nói chung, “tự lực cánh sinh” nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta đã huy động tới mức cao nhất sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điên Biên Phủ.
“Tự lực cánh sinh” đã góp phần từng bước đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp
Trong giai đoạn 1945 – 1950, cuộc kháng chiến của chúng ta phải “tự lực cánh sinh” toàn bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã quán triệt tới mức cao nhất tinh thần “tự lực cánh sinh”.
“Tự lực cánh sinh” được thể hiện rõ nhất, trước hết, trong chế tạo vũ khí đánh địch. Dưới sự chỉ đạo của kỹ sư Trần Đại Nghĩa (Cục trưởng Cục Quân giới), trong điều kiện hết sức khó khăn và cực kỳ thiếu thốn…chúng ta đã chế tạo ra những vũ khí cực kỳ lợi hại, làm cho thực dân Pháp phải kinh hồn bạt vía (Bazoka, DKZ, SKZ…). Bên cạnh đó, lợi dụng địa hình, địa vật (địa lợi) của Việt Nam, những vũ khí thô sơ (hầm chông, bẫy đá, cung, nỏ, giáo, mác…) cũng tiếp tục được nhân dân ta sử dụng để tiêu diệt kẻ thù. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, bằng trí tuệ và lòng yêu nước nồng nàn, chỉ với những vũ khí tự tạo nói trên, chúng ta đã đối chọi và làm phá sản âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”, với một lực lượng hùng hậu (năm 1946 khoảng 100.000 tên), được trang bị những vũ khí tối tân, hiện đại nhất lúc bấy giờ, với đầy đủ quân binh chủng (hải lục, không quân, tăng thiết giáp…) của thực dân Pháp.
Sang giai đoạn 1951 -1954, “tự lực cánh sinh” có sự kết hợp với tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế (Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, phong trào phản chiến của Pháp…). Trên cơ sở đó, chúng ta tiếp tục đánh bại những âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của kẻ thù (Kế hoạch De lattre de Tasigny; Kế hoạch H.Navarre) và đưa thực dân Pháp tới trận chiến cuối cùng trên mặt trận quân sự tại Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng ngày 07/5/1954 (Ảnh tư liệu)
“Tự lực cánh sinh” góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
Vào đầu năm 1954, thực dân Pháp với sự hỗ trợ của Mỹ đã lên kế hoạch biến Điện Biên Phủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm. Với hệ thống phòng thủ kiên cố, được trang bị vũ khí tối tân và sự hậu thuẫn về hậu cần (một máy bay Dakota có thể nhẹ nhàng chở 4 tấn hàng từ Hà Nội, sau 01 giờ bay là có thể chi viện cho quân Pháp tại Điện Biên Phủ). Trong khi đó, điều kiện tác chiến của chúng ta lại vô cùng khó khăn: địa hình hiểm trở, xa hậu phương, phương tiện vận chuyển thô sơ, thiếu thốn về vũ khí, trang bị và lương thực.
Trước tình hình đó, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, phát huy tới mức cao nhất đường lối và tinh thần tự lực cánh sinh, huy động sức mạnh toàn dân tộc để bảo đảm hậu cần, vũ khí và nhân lực cho chiến dịch.
Một trong những điều kỳ diệu nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ chính là sự tham gia của toàn dân vào công tác hậu cần. Hơn 260.000 dân công được huy động tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược và khí tài quân sự bằng phương tiện thô sơ. Những chiếc xe đạp thồ trở thành biểu tượng cho tinh thần kiên trì, sáng tạo, mỗi chiếc có thể chở đến 200–300 kg hàng hóa trên các địa hình hiểm trở. Dân công, bộ đội đã vận chuyển từng bao gạo, từng viên đạn, từng khẩu pháo bằng phương pháp thô sơ qua những chặng đường dài đầy hiểm nguy. Những đoàn xe đạp thồ, những đôi bồ trên vai dân công …đã trở thành biểu tượng cho tinh thần tự lực cánh sinh của quân và dân Việt Nam. Bằng sức người, chúng ta đã bảo đảm một phần lương thực và đạn dược để chiến đấu và chiến thắng.
“Tự lực cánh sinh” nhìn từ chiến thắng Điện Biên Phủ
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là một thắng lợi về mặt quân sự mà còn là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của đường lối và tinh thần, ý chí “tự lực cánh sinh” của toàn Đảng, toàn dân toàn quân ta. Bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hôm nay và mai sau. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, nếu biết dựa vào nội lực, phát huy sức mạnh đoàn kết và sáng tạo, nhất định sẽ vượt qua mọi thử thách để đạt được những thành tựu lớn, đánh thắng mọi kẻ thù.
Mặc dù vậy chúng ta phải hết sức chú ý mối quan hệ biện chứng trong quan hệ quốc tế. Phát huy đường lối và tinh thần, ý chí, sức mạnh “tự lực cánh sinh” của dân tộc Việt Nam phải luôn chú ý kết hợp với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trên tinh thần đó, không những chúng ta tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài, từ quốc tế, từ thời đại, mà còn góp phần xứng đáng với quốc tế, nhân loại, với vai trò là thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế.
Dù trong lĩnh vực kinh tế, khoa học hay bất kỳ lĩnh vực nào, tinh thần tự lực cánh sinh luôn là yếu tố then chốt để vượt qua khó khăn và đạt được thành tích quan trọng.
Với đường lối đúng đắn, sáng tạo, trong đó có nội dung “tự lực cánh sinh”, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, làm nên Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Thắng lợi này đã để lại những bài học quý cho Đảng, dân tộc Việt Nam. Dựa vào chính mình, phát huy nội lực, sáng tạo không ngừng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là con đường tiến lên xây dựng một đất nước Việt Nam giàu, mạnh, công bằng, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
