Văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam sau khi tuyên bố độc lập ngày 02/9/1945 Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 được ký giữa Việt Nam và Pháp nhằm đẩy quân đội Tưởng Giới Thạch sớm về nước, có thêm thời gian tiếp tục đấu tranh ngoại giao và chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc

Khó khăn chồng chất sau ngày độc lập

Sau ngày tuyên bố độc lập 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối diện với những khó khăn, thử thách chồng chất, đe dọa nền độc lập non trẻ.

Nạn đói trong những tháng đầu năm năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của gần 2 triệu người. Từ tháng 8/1945, lại tiếp tục xảy ra hai đợt đói, cộng với lũ lụt, vỡ đê, tiếp đó là hạn hán ở các tỉnh Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đe dọa đời sống của hàng chục triệu người dân.

Trải gần tám thập kỷ “khai phá văn minh” của thực dân Pháp, sau ngày giành được độc lập, cả nước Việt Nam vẫn còn tới hơn 90% dân số chưa biết chữ.

Về tài chính, tại Hà Nội, chính quyền cách mạng chỉ có thể “kế thừa” 1.230.720 đồng bạc Đông Dương, trong đó có gần một nửa là tiền hào rách. Quân khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám không thể chiếm được trụ sở Ngân hàng Đông Dương ở Hà Nội và Sài Gòn vì những nơi này vẫn được quân Nhật vũ trang canh giữ.

Trong khi đó, theo thỏa thuận của các nước Đồng minh tại Hội nghị Potsdam, quân đội Trung Hoa Dân quốc (quân đội Tưởng Giới Thạch) vào Việt Nam (từ phía Bắc, cho đến vĩ tuyến 16) và quân đội Anh vào Việt Nam (phần còn lại), để tước khí giới quân đội Nhật.

Ngày 28/8, những đơn vị đầu tiên của tổng số 18 vạn quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa đã tràn vào Việt Nam qua đường biên giới Trung - Việt. Từ đầu tháng 9, quân đội Trung Hoa Dân quốc đến Hà Nội và các tỉnh, thành phố phía Bắc.

Theo sau quân Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam từ phía Bắc là các thế lực phản động, nguy hiểm nhất là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), ra sức hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Chỉ huy quân Trung Hoa Dân quốc là tướng Lư Hán và cố vấn chính trị là tướng Tiêu Văn ngay từ đầu đã có thái độ hống hách, đưa ra nhiều yêu cầu vô lý như đòi đặt ở mỗi Bộ của Chính phủ lâm thời một sĩ quan làm đại diện liên lạc; đòi phải sửa chữa cầu đường, cung cấp lương thực cho quân đội Trung Hoa dân quốc; phải cho họ biết rõ về lực lượng và tổ chức của quân đội Việt Nam[1]. Các đảng Việt Quốc, Việt Cách, dù được nhân nhượng đặc cách có 70 ghế trong Quốc hội, được tham gia Chính phủ, … nhưng vẫn luôn tìm cách quấy rối, chống lại Chính phủ, như đòi giải tán Mặt trận Việt Minh, đòi đổi tên Quân đội cách mạng, đòi Việt Minh phải rút khỏi Chính phủ, đòi Hồ Chí Minh phải từ chức, v.v.

Núp bóng quân Anh là quân Pháp "mượn cớ", cùng đổ bộ vào cảng Sài Gòn. Tướng Anh Gracey thực hiện các biện pháp giúp Pháp tái chiếm Nam Bộ tiến tới tái lập chế độ thực dân ở Việt Nam như: cấm báo tiếng Việt; cấm người Việt tụ họp, biểu tình, mang vũ khí; đòi Ủy ban nhân dân Nam Bộ phải giao cho Anh cảng Sài Gòn, kho bom Thị Nghè, xưởng Ba Son, Khám Lớn Sài Gòn; ra lệnh giới nghiêm và ban bố tình trạng quân luật; giao cho quân Nhật giữ an ninh trật tự; thả 1.400 lính Pháp bị Nhật giam giữ, trang bị vũ khí Nhật cho số lính này và các Pháp kiều ở Sài Gòn – Chợ Lớn, cho treo cờ tam tài lên trước Dinh Toàn quyền cũ [2].

Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp bất ngờ tấn công đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và nhiều vị trí trọng yếu ở Sài Gòn, chính thức bắt đầu cuộc xâm lược Đông Dương lần thứ hai.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gửi nhiều thư, điện, thông báo đến các chính phủ các nước và Liên Hợp quốc, nhưng chưa được nước nào công nhận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946. (Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Nước cờ kỳ dị

Nếu như mùa đông năm 1945, để đoàn kết nhất trí toàn dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái và để trấn an các chỉ huy quân đội Trung Hoa dân quốc, Hồ Chí Minh đã đi một "nước cờ kỳ dị" là giải tán Đảng, thì lần này, để tránh cho đất nước phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Hồ Chí Minh lại tiếp tục đi một nước c kỳ dị thứ hai: Ký một hiệp định đồng ý cho Pháp đưa quân vào miền Bắc.

Tháng 2/1946, sau khi đánh chiếm được các tỉnh, thành phố ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp dàn xếp với chính quyền Trung Hoa Dân quốc để đưa quân ra miền Bắc. Phía Trung Hoa Dân quốc cũng muốn rút quân khỏi Bắc Đông Dương về nước để đối phó với Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến.

Ngày 28/02, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết tại Trùng Khánh (Trung Quốc) với nội dung chính là: Công dân Trung Quốc ở Đông Dương được hưởng các quyền, đặc quyền và quyền miễn trừ theo truyền thống; Hàng hóa của Trung Quốc được tự do quá cảnh cảng Hải Phòng, vận chuyển trên đường sắt từ biên giới Vân Nam đến Hải Phòng sẽ được miễn thuế hải quan; Pháp giao quyền sở hữu tuyến đường sắt Côn Minh - Hán Khẩu cho Trung Quốc. Đổi lại, quân đội Pháp sẽ vào miền Bắc Đông Dương thay thế quân đội Trung Hoa Dân quốc giải giáp, hồi hương quân đội Nhật. Quân đội Trung Hoa Dân quốc sẽ rút hết về nước không muộn hơn ngày 31/3/1946.

Dân tộc Việt Nam đứng trước nguy cơ rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp một lần nữa. Dù đã cố gắng, Việt Nam vẫn bị các nước lớn “đàm phán trên lưng”. Chính quyền Trung Hoa Dân quốc và thực dân Pháp đã trà đạp thô bạo chủ quyền và độc lập dân tộc của Việt Nam.

Việc giành được chính quyền, tuyên bố độc lập rõ ràng không đồng nghĩa với việc đất nước đã được giải phóng, hoàn toàn độc lập trên thực tế.

Nếu như mùa đông năm 1945, để làm yên lòng các chỉ huy quân đội Trung Hoa dân quốc, đoàn kết toàn dân tộc, đảng phái, Hồ Chí Minh đã đi một "nước cờ kỳ dị" là giải tán Đảng. Lần này, Hồ Chí Minh lại tiếp tục đi một nước cở kỳ dị thứ hai: Ký một hiệp định đồng ý cho Pháp đưa quân vào miền Bắc.

Ngày 03/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Tình hình và chủ trương. Chỉ thị nhận định cả Trung Quốc và Pháp đều muốn dàn xếp để quân Pháp kéo vào miền Bắc. Quốc dân đảng Việt Nam giả vờ cách mạng, chủ trương ''chiến đấu đến cùng''. Nếu Chính phủ chủ hòa, sẽ bị chúng lợi dụng tinh thần kháng chiến của quần chúng mà tuyên truyền, vu cho Chính phủ bán nước. Thực dân Pháp cũng sẽ tăng cường lực lượng để một ngày kia sẽ bội ước tiêu diệt cách mạng. Nhưng chủ hòa sẽ bảo toàn được thực lực, dành thời gian nghỉ ngơi sửa soạn cuộc chiến đấu mới. Muốn chủ hòa, phải mạnh dạn giải thích cho quần chúng hiểu được chủ trương của Chính phủ là duy nhất đúng; lợi dụng thời gian hoà hoãn để diệt  lực lượng phản động bên trong; tích cực chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Đầu tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại diện Chính phủ Việt Nam và Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp, tiến hành các cuộc đàm phán. Phía Pháp muốn ép Việt Nam nhận chế độ tự trị, nằm trong khối Liên hiệp Pháp.

Ngày 05/3, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị mở rộng, nhất trí tán thành chủ trương ''hòa để tiến'' của Ban Thường vụ Trung ương. Lúc này, hạm đội Pháp đang có mặt tại Vịnh Bắc Bộ, chuẩn bị đổ quân vào Hải Phòng.

Sáng ngày 06/3, trong buổi thảo luận về nội dung Hiệp định, Hồ Chí Minh đề xuất dùng từ ''tự do'' thay cho "độc lập", "tự trị". Hiệp định sẽ ghi rõ: Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. Jean Sainteny chấp nhận.

Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946 (Ảnh tư liệu)

Chiều ngày 06/3, tại nhà số 38 Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt phía Việt Nam và Jean Sainteny thay mặt Chính phủ Cộng hòa Pháp ký Hiệp định sơ bộ và một Hiệp định quân sự (phụ khoản) trước sự chứng kiến của đại diện Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa Dân quốc ở Bắc Đông Dương, Phái bộ Mỹ và Lãnh sự quán Anh. Nội dung của Hiệp định gồm các điểm chính là: Phía Việt Nam để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa Dân quốc. Số quân này sẽ rút hết trong vòng 5 năm, mỗi năm rút 1/5. Mọi xung đột phải đình chỉ. Quân đội mỗi bên phải giữ nguyên vị trí để đàm phán chính thức.

Nhân dân Việt Nam không phải ai cũng hiểu được ngay về quyết định ký hiệp định trên đây của Chính phủ. Đúng là khó hiểu thật trong khi cả nước đang hừng hực khí thế chống giặc Pháp, đang kháng chiến anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Chính phủ, ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thì Chính phủ lại ký hiệp định đồng ý cho quân Pháp ra miền Bắc! Các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách bị quân đội Trung Hoa dân quốc bỏ rơi, nên bất mãn và xúi giục dân chúng kết tội Chính phủ là “bán nước”, là “đầu hàng thực dân Pháp.

Từ bên Pháp, một số bạn chiến đấu cũ của Nguyễn Ái Quốc cũng không thể hiểu được nước cờ này của Hồ Chí Minh, nên đã gửi thư thể hiện sự thất vọng của mình:

“Chúng tôi đã chịu ảnh hưởng sự huấn luyện của anh từ năm 1925, lúc anh gây nên phong trào chống đê quốc. Cái tư tưởng mà anh đem huấn luyện cho chúng tôi thật đã ảnh hưởng rất sâu sắc, đã gieo vào tâm hồn chúng tôi một tín ngưỡng vô di vô dịch… Không ngờ! Ngày 6 tháng 3 chúng tôi thất vọng!”

Paris, tháng Tư, năm 1946.

Hà Quang Giụ, Nguyễn Văn Tư, Vũ Văn Tấn”.[3]

Ngày 07/3, trước hàng vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích kỹ thêm về Hiệp định, trong đó nêu bật ý nghĩa, lợi ích của việc ký kết Hiệp định. Người nhắc nhở đồng bào bình tĩnh, đoàn kết, tôn trọng kỷ luật, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.

Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 là văn bản pháp lý đầu tiên mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết với nước ngoài. Lần đầu tiên, Pháp phải công nhận quyền tự do của Việt Nam.

Hiệp định mở ra các hoạt động tiếp theo của hai bên Việt Nam và Pháp nhằm tìm kiếm giải pháp ngoại giao mang lại độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Việt Nam có thêm thời gian để tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Ngay sau buổi ký, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Chúng tôi không thỏa mãn vì chúng tôi chưa giành hoàn toàn được độc lập, nhưng rồi chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Tiếp theo văn bản ngoại giao này, 6 tháng sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Pháp Tạm ước 14/9, cố gắng cuối cùng ngăn cản chiến tranh Pháp - Việt, trước khi nó bùng nổ vào ngày 19/12/1946.

 

[1] Archimedes L.A. Patti, Tại sao Việt Nam, NXB Đà Nẵng, 2007, tr. 474, 482.

[2] Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập I, 1945-1954, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 231.

[3] Đặng Phong: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I: 1945-1854, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.124.