Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (5/1941) là sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng. Hội nghị đã đề ra nhiều quyết sách mang tầm chiến lược và sách lược dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tròn 85 năm nhìn lại sự kiện trọng đại này, những quyết định lịch sử ngày ấy càng cho thấy trí tuệ của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có giá trị chỉ dẫn sâu sắc trong kỷ nguyên phát triển mới hôm nay

Thay đổi chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết

Trước tác động cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc địa có bước chuyển mình theo hướng mới. Trong bối cảnh đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được trở về đất nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng; chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (5/1941) tại Khuổi Nặm, Làng Pá Bó (Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng) từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941.

Hội nghị đã phân tích đặc điểm tình hình xứ Đông Dương bấy giờ: “kinh tế đổ nát, chính trị rối rắm và cách mạng phát triển”[1]; tất cả các giai cấp, tầng lớp đều đã rên xiết dưới hai tầng áp bức bóc lột của giặc Pháp - Nhật, “quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”[2].

Trên cơ sở đó, Hội nghị quyết định “cần phải thay đổi chiến lược”[3]; phải xem nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương”[4]; “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thế quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[5].

Đây là một quyết định rất đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, phù hợp với đặc điểm tình hình và đáp ứng nguyện vọng của tất cả các giai tầng trong xã hội. Quyết định ấy phản ánh tư duy biện chứng của Đảng trong việc nhận thức và giải quyết linh hoạt mối quan hệ dân tộc – giai cấp; dân tộc – dân chủ. Một khi lợi ích dân tộc trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết thì tất cả những yêu sách của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc thì phải tạm gác lại để phục tùng lợi ích quốc gia dân tộc.

Điều này hoàn toàn không trái ngược với chủ nghĩa quốc tế vô sản, với nguyên lý đấu tranh của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó chứng tỏ bản lĩnh độc lập, tự chủ của Đảng ta.

Chính nhờ quyết định “thay đổi chiến lược” đó, Đảng đã quy tụ được toàn thể dân tộc Việt Nam vùng lên đấu tranh thực hiện cho kỳ được mục tiêu chung: giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới.

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1941 (Ảnh Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

Thành lập Mặt trận Việt Minh quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Để thực hiện mục tiêu chung giải phong dân tộc, Hội nghị nhấn mạnh: “phải vận dụng mọi phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)”[6] và để “có tính dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn”[7].

Hội nghị quyết định: “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh”[8] với phương châm “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn…”[9]; “Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa đế quốc hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên nước Việt Nam tự do, độc lập…”[10].

Từ đây, hệ thống tổ chức của Việt Minh được xây dựng chặt chẽ từ tổng bộ ở trung ương đến tận làng, xã. Các tổ chức thành viên của Việt Minh đều lấy tên chung là “hội cứu quốc” nhằm đánh thức lòng ái quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân.

Từ đây, các hình thức cứu quốc: công nhân cứu quốc, phụ lão cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu quốc… tất cả tùy vào sức mình mà đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Có thể nói, thành lập Mặt trận Việt Minh là một quyết định có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hànhTrung ương (5/1941). Từ đây, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tạo điểm tựa vững chắc để khi thời cơ tới, toàn dân tộc Việt Nam đã vùng lên với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, làm nên một cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám long trời.

Vũ trang khởi nghĩa toàn dân, tiến hành khởi nghĩa từng phần mở đường đi tới tổng khởi nghĩa

Từ nhận định: “cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”[11], do đó, “ta phải luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”. Từ đây, Hội nghị quyết định xây dựng lực lượng (cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang) rộng khắp với tinh thần: “các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng gây cuộc khởi nghĩa”; “các đảng viên cộng sản phải có một tinh thần cương quyết hy sinh”, “đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế”[12]; quyết định lấy vùng miền núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang; trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai.

Với những quyết sách này, thế của cách mạng được tạo lập, trên cơ sở đó khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”[13].

Định hướng mô hình chính quyền, nhấn mạnh “vấn đề Đảng”

Hội nghị chủ trương: sau khi giành độc lập sẽ thành lập nhà nước dân chủ cộng hòa của nhân dân. Quyền lợi dân tộc được đặt cao hơn lợi ích cục bộ. Quyết tâm mang tính định hướng này của Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 đã tạo dựng, đặt nền móng cho sự ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công.

Bên cạnh đó, Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh tới “vấn đề Đảng” (công tác xây dựng Đảng): “phải chú trọng xây dựng lực lượng Đảng đều khắp, đặc biệt là những đô thị tập trung, các đồn điền, hầm mỏ đến các vùng nông thôn và các vùng dân tộc thiểu số”[14]; phải gấp rút đào tạo cán bộ “không thể bỏ qua một giờ phút. Những cấp bộ ấy phải mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực sáng tạo”[15]. Công tác tập huấn, tuyên truyền; công tác giữ giao thông liên lạc, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được đồng đều và thông suốt; phải “làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”[16]

Với nhiều quyết định mang tầm chiến lược và sách lược nổi bật nêu trên, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5/1941) là bước ngoặt chiến lược cho cách mạng Việt Nam đi đến ngày thắng lợi: Cách mạng Tháng Tám thành công, đập tan ách gông xiềng của thực dân, phong kiến; kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm nên thắng lợi lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu Điện Biên Phủ; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao ở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; 40 năm thực hiện những quyết sách đổi mới, tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam hôm nay.

Cách mạng tháng Tám thành công từ sự "thay đổi chiến lược" của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 5/1941 (Ảnh tư liệu)

Giá trị chỉ dẫn trong kỷ nguyên phát triển mới

Trước những chuyển biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước hiện nay, tinh thần độc lập, tự chủ, linh hoạt, sáng tạo của Đảng trong những quyết sách tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa I (5/1941) có giá trị chỉ dẫn trong nỗ lực hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức

Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh chiến lược của các quốc gia ngày càng phức tạp, tác động nhiều chiều của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, tài nguyên dữ liệu lớn… Việt Nam cần phát huy hơn nữa tinh thần độc lập, tự chủ đề ra những quyết sách mang tính chiến lược, tạo bước ngoặt cho dân tộc phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh quan điểm: “Nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước”[17].

Bảo đảm cao nhất lợi ích dân tộc

Mọi quyết sách của Đảng đề ra đều phải dựa trên lợi ích quốc gia dân tộc, xa rời mục tiêu, nguyên tắc cao nhất đó sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường. Ngày nay, điều đó thể hiện ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chủ động, tích cực trong thực hiện mục tiêu bao trùm về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước...; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dung và phát triển đất nước”[18].

Quyết sách hợp lòng dân là điều kiện cơ bản để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ chủ trương, cách thức xây dựng và vận động quần chúng tạo sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Việt Minh năm xưa tiếp tục định hướng cho Đảng ta hôm nay nhằm: “khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”[19]; kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại để phát triển và bảo vệ đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh - nhân tố quyết định thành công trong kỷ nguyên phát triển mới

Những quyết sách “về vấn đề Đảng”[20] tại Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 có ý nghĩa sâu sắc trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hiện nay.

Kế thừa nhận thức đúng đắn đó, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nêu quan điểm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; đoàn kết thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín”[21] nhằm ngang tầm với sứ mệnh đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Với tất cả những ý nghĩa đó, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (5/1941) - 85 năm nhìn lại, những giá trị chỉ dẫn vẫn còn nguyên tính thời sự. Những quyết sách ấy tiếp tục dẫn lối cho Đảng ta “tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”[22] viết tiếp hành trình cách mạng trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.103.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.112.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.118.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.118-119.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.113.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.122.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.114.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd,, tr.122.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.461.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.461-463.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.130.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd,, tr.130.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.131-132.

[14] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1954), Quyển 1 (1930-1945), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nộị, 2018, tr.522.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.133.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, tr.136.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.I, tr.81.

[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.I, tr.113-114.

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.I, tr.82.

[20] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr.132.

[21] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.I, tr.83.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.I, tr.82.