Sau năm 1975, hòa hợp dân tộc là yêu cầu sống còn để hàn gắn chiến tranh và xây dựng đất nước. Thế nhưng, nhiều luận điệu xuyên tạc hiện nay đang cố tình bóp méo lịch sử, phủ nhận những nỗ lực hòa hợp của Việt Nam nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Ngày 30/4/1975 khép lại cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai thập niên trên đất nước Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và cả một hành trình đầy khó khăn nhằm hàn gắn những chia cắt do chiến tranh để lại. Sau thắng lợi ấy, vấn đề đặt ra không chỉ là thống nhất lãnh thổ, mà còn là hòa hợp dân tộc, khôi phục lòng tin xã hội và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong điều kiện đất nước kiệt quệ sau chiến tranh.
Ngay từ những ngày đầu sau giải phóng, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định hòa hợp dân tộc là một yêu cầu chiến lược. Trong diễn văn tại lễ mừng chiến thắng ngày 15/5/1975, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nhấn mạnh: “Đồng bào miền Bắc hãy đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng bào miền Nam hãy đoàn kết phấn đấu xây dựng ở miền Nam một chế độ dân tộc, dân chủ tốt đẹp, một nền kinh tế dân tộc, dân chủ phồn vinh, một nền văn hóa dân tộc, dân chủ tiến bộ và lành mạnh. Với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhân dân đã tỏ rõ lượng khoan hồng đối với tất cả những ai đã lầm đường lạc lối, bất kể quá khứ của họ như thế nào, nay trở về với dân tộc. Miễn là họ thành tâm hối cải, thành tâm mang hết tài năng ra phục vụ Tổ quốc thì vị trí của họ trong lòng dân tộc sẽ được bảo đảm…”.
Đoạn diễn văn trên cho thấy nhiều vấn đề có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Trước hết, lãnh đạo Việt Nam khi ấy nhìn sự kiện 30/4/1975 không chỉ là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc, mà còn là thắng lợi của toàn thể dân tộc Việt Nam sau nhiều năm chia cắt. Cách dùng các khái niệm “đồng bào miền Bắc”, “đồng bào miền Nam” phản ánh tư duy hàn gắn dân tộc, khắc phục những đổ vỡ do chiến tranh gây ra.
Đáng chú ý hơn, diễn văn không sử dụng ngôn ngữ trả thù hay thanh trừng đối với những người từng phục vụ chính quyền Sài Gòn trước đó. Ngược lại, các cụm từ “hòa giải”, “hòa hợp dân tộc”, “khoan hồng”, “trở về với dân tộc” cho thấy chủ trương mở đường hòa nhập cộng đồng dân tộc đối với những người từng ở phía bên kia chiến tuyến, với điều kiện chấp nhận trật tự chính trị mới và cùng tham gia xây dựng đất nước.
Đặc biệt, trong diễn văn này, người lãnh đạo cao nhất của Đảng chưa đặt ra yêu cầu xây dựng ngay tại miền Nam một mô hình xã hội chủ nghĩa giống miền Bắc, mà nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng “một chế độ dân tộc, dân chủ”, “một nền kinh tế dân tộc, dân chủ”, “một nền văn hóa dân tộc, dân chủ”. Điều đó cho thấy trong nhận thức ban đầu của lãnh đạo Việt Nam, việc ổn định xã hội, hàn gắn dân tộc và khôi phục đời sống ở miền Nam được đặt lên hàng đầu trong bối cảnh hậu chiến.

Chương trình Xuân Quê Hương năm 2025, gặp gỡ đại diện người Việt Nam ở nước ngoài tại Hà Nội
Tuy nhiên, nhiều luận điệu chống phá hiện nay lại cố tình tách rời các chính sách hậu chiến khỏi bối cảnh lịch sử đặc biệt phức tạp của Việt Nam sau năm 1975 để quy kết rằng Nhà nước Việt Nam thực hiện “trả thù”, “phân biệt đối xử” hay “đàn áp có hệ thống” đối với những người thuộc chế độ cũ.
Đó là cách nhìn phiến diện và thiếu trung thực với lịch sử.
Việt Nam không lựa chọn con đường thanh trừng những người đã cộng tác với Mỹ. Trái với dự đoán của Tổng thống Gerald Ford và nhiều người khác, một cuộc "tắm máu" đã không xảy ra sau khi Sài Gòn sụp đổ. Những ngày đầu các phóng viên nước ngoài vẫn ở lại Sài Gòn và "được phép đi lại trong thành phố, mặc dù không được phép gửi bài. Việc họ có thể tự do đi lại là một bằng chứng cho thấy chính quyền Cộng sản không có cuộc tắm máu nào cần che giấu" (Wain, 1979).
Điều mà Nhà nước hướng tới là từng bước ổn định xã hội, khôi phục sản xuất và tạo điều kiện hòa nhập trở lại cho những người chấp nhận chế độ mới.
Cần thấy rằng, sau năm 1975, Việt Nam bước vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đất nước vừa trải qua chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, cơ sở hạ tầng kiệt quệ, hàng triệu người thất nghiệp, đời sống nhân dân vô cùng thiếu thốn. Đồng thời, Việt Nam còn phải đối mặt với tình thế “thù trong giặc ngoài”, bị bao vây cấm vận, môi trường an ninh cực kỳ phức tạp.
Việc quản lý một số lượng lớn sĩ quan, viên chức của chính quyền Sài Gòn cũ được xem là vấn đề liên quan trực tiếp đến ổn định chính trị và an ninh quốc gia của chính quyền cách mạng non trẻ. Nhiều hoạt động chống phá có tổ chức từ bên ngoài nhằm xâm nhập, gây rối và lật đổ chính quyền mới đã bị phát hiện, bắt giữ, như các vụ việc liên quan đến tổ chức của Lê Quốc Túy hay Hoàng Cơ Minh. Những vụ việc đó cho thấy những lo ngại về an ninh của Nhà nước Việt Nam thời kỳ đó không phải không có cơ sở.
Trong điều kiện ấy, chính sách học tập, cải tạo được triển khai nhằm quản lý, phân loại và ổn định tình hình hậu chiến. Có thể trong thực tiễn đã tồn tại những biểu hiện cứng nhắc, có nơi kéo dài hoặc gây khó khăn cho một bộ phận người dân. Nhưng cần phân biệt rõ giữa những hạn chế trong điều kiện lịch sử cụ thể với các luận điệu quy kết rằng Việt Nam tiến hành “khủng bố”, “trả thù quy mô lớn” sau chiến tranh.
Một luận điệu xuyên tạc khác thường được nhắc lại là việc quy kết chính sách xây dựng các vùng kinh tế mới sau năm 1975 là hình thức “đày ải”, “tịch thu tài sản” hoặc “trừng phạt” người dân miền Nam.
Cách nhìn này tiếp tục cố tình bỏ qua bối cảnh lịch sử ở Việt Nam và thế giới thời kỳ đó. Từ sau năm 1975, người dân cả nước phải trải qua thời kỳ cực kỳ khó khăn về kinh tế, nhất là lương thực ở nông thôn các tỉnh phía Bắc.
Sau chiến tranh, nhiều đô thị miền Nam rơi vào tình trạng quá tải dân cư, thất nghiệp gia tăng nghiêm trọng, sản xuất đình đốn, thiếu lương thực và thiếu việc làm trên diện rộng. Trong khi đó, nhiều vùng đất rộng lớn ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và miền núi phía Nam còn hoang hóa, thiếu lao động sản xuất. Chính sách đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới xuất phát từ yêu cầu phân bổ lại dân cư và khôi phục nền kinh tế trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước.
Cần phải thừa nhận điều kiện sống tại nhiều vùng kinh tế mới khi ấy rất khó khăn, nhưng phải nhìn thấy đó là khó khăn chung của cả nước. Cơ sở hạ tầng thiếu thốn, đời sống vật chất khó khăn, việc tổ chức thực hiện công việc của các trại cải tạo ở nhiều nơi còn bất cập. Nhưng từ đó quy kết toàn bộ chính sách là “đày ải” hay “trừng phạt có chủ đích” là sự đánh tráo bản chất lịch sử. Trên thực tế, nhiều vùng kinh tế mới về sau đã trở thành các khu dân cư ổn định, góp phần mở rộng không gian phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề dân cư hậu chiến.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt nhóm tri thức Houston, 9/2024 (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Tương tự, vấn đề vượt biên và di tản sau năm 1975 cũng thường bị khai thác như một “bằng chứng” để vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp”, “ngược đãi” người dân miền Nam.
Đây là cách lý giải đơn giản hóa một hiện tượng lịch sử rất phức tạp.
Làn sóng vượt biên sau năm 1975 chịu tác động của nhiều nguyên nhân đan xen: hậu quả nặng nề của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tâm lý bất ổn xã hội sau biến động lớn, hoạt động tổ chức đưa người ra nước ngoài, tác động của Chiến tranh Lạnh, chính sách bao vây cấm vận kéo dài cùng khát vọng tìm kiếm cơ hội kinh tế ở nước ngoài của nhiều người dân.
Không thể quy toàn bộ hiện tượng ấy thành hệ quả duy nhất của “đàn áp chính trị”. Càng không thể sử dụng những bi kịch của một giai đoạn lịch sử đặc biệt khó khăn để phủ nhận toàn bộ nỗ lực hòa hợp dân tộc của Việt Nam sau chiến tranh.
Điều đáng chú ý là cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam ngày càng được mở rộng và thể hiện rõ ràng hơn trên thực tế. Đảng và Nhà nước luôn khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Nhiều chính sách đã được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào về nước đầu tư, sinh sống, thăm thân và đóng góp xây dựng đất nước.
Ngày nay, hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài vẫn duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, tham gia đầu tư, hợp tác khoa học, giáo dục, văn hóa và các hoạt động xã hội tại Việt Nam. Nhiều trí thức, doanh nhân, chuyên gia từng sống ở nước ngoài đã trở về tham gia phát triển đất nước. Trong đời sống xã hội hiện nay, những ranh giới như chiến tuyến của quá khứ đang ngày càng được thu hẹp bằng chính nhu cầu hòa hợp và phát triển của dân tộc.
Thực tế ấy bác bỏ luận điệu cho rằng các chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam chỉ là “chiêu bài” hay “mị dân”. Một dân tộc không thể đạt được mức độ ổn định xã hội, phát triển kinh tế và gắn kết cộng đồng như Việt Nam hôm nay nếu chỉ dựa trên khẩu hiệu hình thức.
Điều đáng nói là trong khi phần lớn người Việt Nam ở trong và ngoài nước mong muốn khép lại quá khứ để hướng tới tương lai, thì một số tổ chức cực đoan vẫn cố tình khai thác các vấn đề lịch sử theo hướng hận thù và đối đầu. Họ nhân danh “hòa giải” nhưng thực chất lại liên tục khoét sâu chia rẽ dân tộc, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả phát triển của đất nước và kích động tâm lý đối kháng giữa người Việt với nhau.
Những luận điệu ấy không nhằm mục tiêu hòa giải thực sự, mà phục vụ mưu đồ chính trị chống phá Việt Nam, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc – yếu tố có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển và ổn định của đất nước.
Lịch sử luôn cần được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và đặt trong hoàn cảnh cụ thể của từng thời kỳ. Không thể đánh giá các chính sách hậu chiến của Việt Nam bằng định kiến chính trị hoặc bằng cách tách rời chúng khỏi bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, đang ở trong tình thế bị bao vây cấm vận và đối mặt với nhiều nguy cơ an ninh nghiêm trọng.
Hòa hợp dân tộc không có nghĩa là phủ nhận lịch sử, càng không thể dựa trên sự xuyên tạc lịch sử. Sau nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, điều mà dân tộc Việt Nam cần tiếp tục vun đắp không phải là hận thù hay chia rẽ, mà là sự thấu hiểu lịch sử, tinh thần bao dung và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, phát triển và hùng cường.
