Đường lối đổi mới là bước phát triển sáng tạo của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam; vì vậy, kiên định đường lối đổi mới được Đại hội XIV xác định là một trong “bốn kiên định” có ý nghĩa nguyên tắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đường lối đổi mới - bước phát triển sáng tạo của Đảng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của đường lối đổi mới không phải là sản phẩm của tư duy chủ quan hay sự “thỏa hiệp” trước khó khăn của thực tiễn, mà bắt nguồn từ nền tảng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và quá trình vận dụng sáng tạo học thuyết đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong tác phẩm Làm gì?, V.I.Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng[1]. Một đảng cách mạng muốn giữ vững vai trò lãnh đạo không thể chỉ dựa vào ý chí chính trị mà phải được dẫn dắt bởi nền tảng lý luận khoa học, bởi hệ tư tưởng tiên phong phản ánh đúng quy luật phát triển của lịch sử. Đây cũng là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.

Đại hội VI (1986) đánh dấu bước ngoặt đặc biệt quan trọng khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật[2]. Đây là sự đổi mới về tư duy kinh tế đồng thời là bước phát triển mới trong bản lĩnh lý luận và năng lực tự điều chỉnh của Đảng cầm quyền trước yêu cầu của thực tiễn lịch sử. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI năm 1989 tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới có nguyên tắc, kiên quyết chống đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và không xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sự kiên định đó đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị và tránh rơi vào khủng hoảng như ở một số quốc gia khác.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đường lối đổi mới, đất nước từng bước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ra những chuyển biến mang ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá trong thời gian dài; quy mô và tiềm lực kinh tế không ngừng được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng cải thiện; công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều thành tựu quan trọng được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia tiếp tục được giữ vững.

Đồng thời, quá trình đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đưa Việt Nam từ vị thế một quốc gia bị bao vây, cấm vận trở thành đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tham gia ngày càng sâu vào các cơ chế hợp tác và liên kết kinh tế toàn cầu. Những thành tựu ấy không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn là minh chứng thực tiễn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Kiên định đường lối đổi mới - yêu cầu cấp thiết của kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên mới, cách mạng Việt Nam vận động trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh, phức tạp, đa chiều và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; chuỗi cung ứng, năng lượng, dữ liệu, công nghệ lõi và không gian mạng trở thành những địa bàn cạnh tranh mới. Trong môi trường ấy, quốc gia nào thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu năng lực tự chủ và thiếu khả năng thích ứng sẽ dễ bị cuốn vào lệ thuộc, bị động hoặc tụt hậu.

Ở trong nước, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra đồng thời nhiều nhiệm vụ lớn: hoàn thiện thể chế phát triển; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, vận hành thông suốt, hiệu quả; khơi thông nguồn lực xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện. Cùng với đó là nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và sự chống phá tinh vi trên mặt trận tư tưởng, lý luận.

Trong điều kiện đó, tinh thần Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đây là “trục chính trị - tư tưởng” bảo đảm để đổi mới diễn ra đúng hướng, để phát triển kinh tế thị trường không chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa, để hội nhập quốc tế không dẫn tới hòa tan và để hiện đại hóa đất nước luôn gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bản sắc văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Điểm cốt lõi trong tinh thần Đại hội XIV của Đảng là phải chuyển mạnh từ nhận thức đúng sang hành động đúng, từ nghị quyết sang kết quả cụ thể. Kiên định đường lối đổi mới vì vậy không dừng ở khẩu hiệu chính trị, mà phải thể hiện trong năng lực thể chế hóa chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật khả thi; trong kỷ luật, kỷ cương tổ chức thực hiện; trong cơ chế đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, hiệu quả và sự hài lòng của Nhân dân; trong năng lực phát hiện, xử lý sớm những điểm nghẽn làm suy giảm động lực phát triển.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tìm cách chuyển hóa khái niệm “đổi mới” thành công cụ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tách đổi mới khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ súy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và mô hình phát triển lệ thuộc. Chúng lợi dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, truyền thông xuyên biên giới để lan truyền thông tin sai lệch, tuyệt đối hóa mặt trái của kinh tế thị trường, khoét sâu hạn chế trong quản lý xã hội, kích động tâm lý hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân.

Từ góc độ thực tiễn, lịch sử 40 năm đổi mới đã chứng minh rằng, chỉ khi giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước mới duy trì được ổn định chính trị, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn ấy đồng thời bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc cho rằng đổi mới ở Việt Nam là “đổi màu chế độ” hay “đi theo chủ nghĩa tư bản”. Trái lại, chính sự kiên định nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng đã tạo nên thành công của đổi mới Việt Nam.

Đại hội XIV cũng chỉ rõ bài học kinh nghiệm quý báu có giá trị định hướng cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong kỷ nguyên mới đó là: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lấy phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân...”[3].

Từ yêu cầu đó, tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự tham gia chủ động của Nhân dân, doanh nghiệp, toàn xã hội. Tăng trưởng không thể đánh đổi bằng bất công xã hội, suy thoái văn hóa, ô nhiễm môi trường hoặc lệ thuộc chiến lược. Đây là ranh giới nguyên tắc thể hiện bản chất nhân văn, tiến bộ của định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Để kiên định đường lối đổi mới trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt coi trọng ba yêu cầu: Một là, nâng cao chất lượng công tác lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo chiến lược, kịp thời bổ sung, phát triển tư duy mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, lấy hiệu quả thực thi, kỷ luật hành động và lợi ích thiết thực của Nhân dân làm thước đo. Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn ngang tầm, đạo đức công vụ trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Kiên định đường lối đổi mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu mang tính quy luật đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Đó là sự kiên định trên nền tảng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, năng lực quản trị và mô hình tăng trưởng để thích ứng với những biến đổi sâu sắc của thời đại. Sự thống nhất giữa bản lĩnh kiên định và năng lực đổi mới sáng tạo sẽ là nguồn sức mạnh căn bản để Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


[1] V.I.Lênin (1975), Toàn tập, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva, tập 6, trang 30.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 49, trang 591.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, trang 73.