Mỗi dịp 30/4, trên mạng xã hội thường xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họ đánh tráo khái niệm, hòng lái dư luận sang một hướng khác, sai lệch với bản chất sự thật lịch sử với những cụm từ như: “Tháng tư đen”, “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”, “kêu gọi phục quốc”... Nhưng, nếu ai ngẫm nghĩa kỹ về những lời tự bạch của kẻ trong cuộc thì sẽ dễ dàng nhận thấy “phục quốc” chỉ là ảo tưởng, bởi lẽ “không có quốc lấy đâu ra mà phục quốc”!

“Lời tự thú” của những người trong cuộc

Dưới đây xin nhắc lại một số phát ngôn của người trong cuộc, bao gồm cả quan chức Mỹ và người Việt từng hoạt động trong Việt Nam cộng hòa (trước và sau 1975) để bạn đọc cùng suy ngẫm.  

Ông Nguyễn Văn Thiệu từng là Tổng thống Việt Nam cộng hòa, thú nhận khi cuộc chiến còn cam go rằng: “Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Ðộc Lập”. Đó là câu nói cho thấy bản chất làm tay sai, dựa vào ngoại bang hòng thực hiện mưu đồ chia cắt đất nước, lập quốc gia riêng! Nguồn gốc câu nói đó xuất phát từ một kế hoạch đi cầu viện Mỹ bị thất bại. Trong bức thư gửi ông Thiệu ngày 14/11/1972, R. Nixon nhấn mạnh: “Tôi tuyệt đối cam đoan với ngài rằng, nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt”... Thế nên vì tin và mong tin, ông Thiệu đã đó như “lời hứa danh dự”, rồi trông chờ vào Mỹ để duy trì hệ thống chính trị - quân sự của Việt Nam cộng hòa. Tuy nhiên, sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, rồi ký vào Hiệp định Paris, rút quân và cao chạy xa bay.

Còn ông Nguyễn Cao Kỳ, từng giữ chức Thủ tướng (1965-1967) và Phó Tổng thống (1967-1971) Việt Nam Cộng hòa đã trả lời phỏng vấn của Báo Thanh niên (số Xuân Ất Dậu năm 2005) rằng: “Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”. Khi bại, sau thời gian sống ở hải ngoại, ông Kỳ nhận thấy rõ sức mạnh chính nghĩa của những người cộng sản nỗ lực xây dựng quê hương từ điêu tàn của khói lửa chiến tranh, vươn lên giàu mạnh, đất nước từng ngày đổi thay, nên chính ông đã vạch mặt kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại.

Cũng năm 2005, Nguyễn Cao Kỳ có buổi trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình Việt Nam rằng: “Nước Việt Nam đã được độc lập, thống nhất rồi. Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc? Chưa kể một số người cho là 3 triệu người hải ngoại không thể nhân danh tổ quốc Việt Nam được. Và tôi từng hỏi nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng, dân chủ mà đi lừa gạt người ta”. Phát ngôn của ông Kỳ trong đoạn video đó được đăng tải rộng rãi trên mạng xã hội có tác dụng dội gáo nước lạnh thẳng vào những tổ chức, cá nhân nhân danh “phục quốc”, chống cộng để lừa đảo, chống phá đất nước Việt Nam.

Với ông Nguyễn Ngọc Lập từng là một nhân vật của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, rồi hoạt động ở hải ngoại giai đoạn sau 1975. Tuy nhiên, năm 2014 khi về Việt Nam và thăm Trường Sa, ông Lập thay đổi quan điểm, phát ngôn chỉ trích chính đồng đội cũ của mình, nhận thấy rõ thất bại, hoạt động vô ích của hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại. Ông Lập trước đây từng nói: “Chúng tôi không đáng xách dép cho cộng sản về lãnh vực tuyên truyền...” và sau này lại ví von: “hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa không bằng hậu môn cộng sản”!. Câu nói ấy là thông điệp nhắn nhủ hậu duệ đừng mất công sức cho hành động không tưởng “phục quốc”.

Bên cạnh đó, có nhiều người Mỹ kể cả quan chức từng tham chiến tại chiến trường Việt Nam cũng thú nhận Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho chế độ, quốc gia nào cả. Thậm chí, có vị quan chức Hàn Quốc cũng phải thú nhận sự thất bại tất yếu của Việt Nam Cộng Hòa. Điển hình là Noam Chomsky - nhà phê bình nổi tiếng người Mỹ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, thường xuyên chỉ trích chế độ Việt Nam Cộng hòa trong thời gian gây chiến tranh, coi đây là một thực thể tay sai (client regime), “ngụy quyền” do Mỹ dựng lên và duy trì bằng bạo lực. Bởi vậy khi nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa, Noam Chomsky thường nhấn mạnh đây là chế độ tay sai không dân chủ, có bản chất tham nhũng và phản động, thể hiện cuộc xâm lược của Mỹ, tiến hành chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Chomsky lập luận rằng: Hoa Kỳ đã thực hiện một “cuộc xâm lược” vào Nam Việt Nam từ năm 1962 thông qua việc sử dụng các nhóm tay sai và sau đó là quân đội Mỹ, phá hủy xã hội nông thôn. Tóm lại, quan điểm của Chomsky coi Việt Nam Cộng hòa không phải là một chính phủ hợp pháp đại diện cho người dân, mà là công cụ của đế quốc Mỹ nhằm kiểm soát khu vực.

Một nhân vật của Mỹ là William Westmoreland thú nhận: “Tôi thay mặt quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của quân lực miền nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ các bạn… Chúng tôi (người Mỹ) là một bên chủ chiến với Cộng sản Việt Nam, các bạn chỉ là những kẻ được chúng tôi tuyển mộ và dựng lên để chống lại đồng loại của các bạn, chúng tôi không thù họ thì tại sao các bạn thù họ?”. Còn cựu tổng thống Mỹ Richard Milhous Nixon đã hối tiếc rằng: “Nếu là Truman tôi đã đứng về phía Việt Minh ngay từ đầu và lôi kéo họ, điều đó dễ hơn là chỉ huy một lũ ngu chống lại những kẻ thông minh nhất của một dân tộc”. Còn ông cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton gửi lời đến những người phản đối Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (1995) rằng: “Họ đã chạy khỏi quê hương của họ vì sự hèn nhát. Giờ đây họ lại muốn trả thù kẻ chiến thắng bằng cách hy sinh lợi ích của Mỹ. Có vẻ họ không tự nhận thức được thân phận của họ”.

Điều đặc biệt là ông Won Sei Hoon - cựu Giám đốc tình báo quốc gia Hàn Quốc nói rằng: “Tôi không nghĩ rằng nếu còn tồn tại VNCH sẽ giống Nam Hàn, nó sẽ trở thành Nam Sudan với nội chiến, đói nghèo, tham nhũng, xung đột tôn giáo… VNCH là một thứ ăn bám, rác rưởi, không thể sánh với chúng tôi”.

Sự thật lịch sử không thể phủ nhận

Sự thật lịch sử chính là luận cứ đanh thép có sức mạnh vô biên phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ mà dân tộc Việt Nam luôn kiên trì bảo vệ. Tính đến năm 1954, miền Nam là một bộ phận của cơ thể Việt Nam thống nhất mà tiền nhân tạo dựng. Điều đó có nghĩa là miền Nam hoàn toàn không phải là một đất nước riêng biệt nằm ngoài đất nước Việt Nam thống nhất. Nhưng có chuyện ngược đời, từ những năm 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ ra sức viện trợ, tiếp sức cho thực dân Pháp, đẩy mạnh âm mưu dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm (cái gọi là Việt Nam cộng hòa), rồi từng bước hất cẳng Pháp hòng thôn tính Việt Nam và Đông Dương để “ngăn chặn sự an tỏa của chủ nghĩa cộng sản” ở Đông Nam Á. Từ đó, bọn VNCH đóng vai trò chủ yếu giúp đế quốc Mỹ thực hiện mưu đồ chia cắt đất nước Việt Nam, cản lại chủ trương thống nhất Tổ quốc Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Suốt 21 năm gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ cùng lực lượng tay sai (Ngụy và chư hầu) đã thay đổi 5 chiến lược quân sự khác nhau (Chiến tranh đơn phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh), chiến lược sau thâm độc, xảo quyệt hơn chiến lược trước; đổ nhiều bom đạn, kể cả chất độc hủy diệt màu da cam, tốm kém nhiều tỷ đô la, vũ khí tối tân nhất là máy bay B52, điều quân viễn chinh và kéo nhiều quân lính chư hầu vào tàn phá đất nước, giết hại nhân dân Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam yêu nước dùng phương pháp đối thoại hòa bình không có kết quả, buộc phải dùng bạo lực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh để đưa non sông về một mối, trả lại một cơ thể Việt Nam thống nhất. Với ý chí quyết tâm đến cùng bảo vệ Tổ quốc độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân tộc Việt Nam đã đánh dạt kẻ thù ngoại xâm (Mỹ cút đầu năm 1973) và đánh sập bọn tay sai nội phản (Ngụy nhào 30/4/1975), kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày 30/4/1975. Đương nhiên, kết quả này đế quốc Mỹ và bọn tay sai không ngờ được, chưa bao giờ nghĩ tới!

Kể từ khi đất nước thống nhất, Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn để vươn mình mạnh mẽ. Từ một nước nghèo nàn, thiếu ăn trầm trọng, Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao. Thành quả của công cuộc Đổi mới là câu trả lời đanh thép nhất bác bỏ những hoài niệm mù quáng về một chế độ đã lùi vào dĩ vãng. Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng cao, có tiếng nói uy tín ở nhiều diễn đàn quốc tế.

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán chủ trương “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Những người từng làm việc trong chế độ cũ, nếu không vi phạm pháp luật, đều được tạo điều kiện sinh sống và làm việc bình thường. Nhiều kiều bào ở nước ngoài, bao gồm cả những người từng có định kiến đã trở về đóng góp xây dựng quê hương. Bởi vậy, việc một số cá nhân vẫn giữ tư tưởng “quốc hận” là hành động đi ngược với xu thế hòa hợp dân tộc, tự giam cầm mình trong bóng tối của quá khứ, lạc lõng trước sự phát triển của đất nước Việt Nam thống nhất.

Thế hệ trẻ người Việt Nam yêu nước hôm nay, những người sinh sau năm 1975, nhìn ngày 30/4 với niềm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông, chứ không phải với sự hận thù. Sự gắn kết giữa cộng đồng người Việt trong và ngoài nước ngày càng bền chặt chính là minh chứng cho vết thương chiến tranh đang được hàn gắn bởi tình đoàn kết dân tộc, nghĩa đồng bào chung gốc.

Ngày 30/4/1975 mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện chiến thắng của lòng yêu nước, thương dân, của nội lực, ý chí thống nhất đất nước, khát vọng hòa bình, chân lý ngàn đời “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Mọi âm mưu xuyên tạc, “lật sử” về ngày đại lễ 30/4 đều chỉ là tuyệt vọng của kẻ đi vào đường cùng đang gắng gượng chút hơi thở cuối đời vào hành trình phủ nhận sự thật lịch sử hòng ngăn cản sự phát triển của đất nước thống nhất.

Vậy nên, khẳng định rằng: họ đã sai từ đầu, bởi lẽ “không có quốc” lấy gì để “phục quốc”?