Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến văn hóa, coi văn hóa vừa là một lĩnh vực cơ bản cấu thành đời sống xã hội, vừa có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với chính trị, kinh tế, xã hội. Đồng thời văn hóa có khả năng định hướng, bồi đắp con người và tạo nên sức mạnh tinh thần cho sự phát triển của dân tộc. Những quan điểm về văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn biện chứng, toàn diện và nhất quán, đồng thời tiếp tục được Đảng kế thừa, phát triển đường lối xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới, gần đây nhất là Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hồ Chí Minh quan niệm như thế nào về vị trí của văn hóa?

Một trong những quan điểm thể hiện tập trung, nhất quán quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng đất nước là: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”[1]. Luận điểm này, trước hết khẳng định văn hóa là một phương diện cơ bản của đời sống xã hội, có vị trí thiết yếu trong tổng thể sự nghiệp kiến thiết và phát triển đất nước. Vì thế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước không thể chỉ tập trung vào phát triển kinh tế, củng cố chính trị hoặc giải quyết các vấn đề xã hội mà xem nhẹ văn hóa, trái lại, các lĩnh vực này phải được quan tâm một cách đồng bộ, gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển. Cần hiểu một cách đầy đủ rằng, quan niệm “coi trọng ngang nhau” của Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với việc đồng nhất vị trí, chức năng và phương thức vận động của chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Mỗi lĩnh vực đều có đối tượng, chức năng và phương thức vận động riêng, song đều là những phương diện không thể thiếu của đời sống xã hội và của quá trình phát triển đất nước. Vì vậy, điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự “cào bằng” vai trò giữa các lĩnh vực mà là yêu cầu phải nhận thức đúng vị trí của văn hóa trong chỉnh thể phát triển, khắc phục khuynh hướng tuyệt đối hóa một lĩnh vực và xem nhẹ các lĩnh vực còn lại.

Từ đó có thể thấy, Hồ Chí Minh vừa khẳng định văn hóa là một lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội, vừa phê phán cách nhìn coi văn hóa là lĩnh vực thứ yếu, phụ thuộc hoặc chỉ “đi sau” kinh tế và chính trị. Văn hóa không chỉ phản ánh trình độ phát triển của xã hội mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành con người, bồi đắp hệ giá trị, củng cố nền tảng tinh thần, định hướng hành vi và tạo động lực cho sự phát triển. Chính ở phương diện đó, văn hóa có khả năng thấm sâu vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, góp phần điều chỉnh mục tiêu, phương thức và chất lượng của quá trình phát triển.

Vị trí đặc biệt ấy của văn hóa được Hồ Chí Minh diễn đạt cô đọng trong quan điểm nổi tiếng của Người tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1946: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”[2]. Quan điểm này không chỉ là sự khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa mà còn thể hiện sâu sắc chức năng định hướng của văn hóa đối với đời sống xã hội. “Soi đường” trước hết là định hướng về giá trị, lý tưởng và chuẩn mực, là góp phần hình thành con người có tri thức, đạo đức, trách nhiệm và năng lực làm chủ; đồng thời tạo nên nền tảng tinh thần cần thiết để xã hội lựa chọn những mục tiêu và phương thức phát triển phù hợp.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa giữ vị trí thiết yếu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, vừa là một lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, vừa là nền tảng tinh thần và sức mạnh định hướng đối với sự phát triển của con người và xã hội.

Mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực của đời sống xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh?

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa không tồn tại biệt lập mà luôn nằm trong tổng thể đời sống xã hội, có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với chính trị, kinh tế và các quan hệ xã hội. Vậy nên, khi bàn về công cuộc kiến thiết đất nước, Người đặt văn hóa cùng với chính trị, kinh tế và xã hội trong một chỉnh thể thống nhất, đều là những phương diện cơ bản cần được đồng thời quan tâm. Quan điểm đó thể hiện một cách tiếp cận toàn diện, biện chứng về phát triển, không thể phát triển bền vững nếu tuyệt đối hóa một lĩnh vực và xem nhẹ những lĩnh vực còn lại.

Thứ nhất, văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với chính trị. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất là mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”[3]. Trong điều kiện một dân tộc mất độc lập, văn hóa cũng không thể phát triển đầy đủ, tự do. Người nói: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do”[4]. Vì vậy, giải phóng chính trị, giành độc lập dân tộc tạo tiền đề căn bản để giải phóng và phát triển văn hóa. Chính quyền mới, chế độ chính trị mới tạo lập không gian xã hội, thể chế và điều kiện để Nhân dân trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Tuy nhiên, quan hệ giữa văn hóa và chính trị không phải là quan hệ một chiều. Văn hóa cũng tác động trở lại chính trị bằng việc hình thành lý tưởng, niềm tin đạo đức, ý thức công dân và những chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người. Khi Hồ Chí Minh yêu cầu văn hóa phải làm cho mỗi người có “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”, “có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng mình”[5]. Người đã đặt văn hóa vào chiều sâu của đời sống chính trị, văn hóa góp phần tạo nên con người chính trị, đạo đức chính trị và nền tảng tinh thần của xã hội.

Vì thế, Người viết: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”[6]. Quan niệm “văn hóa ở trong chính trị” không nên hiểu giản đơn là văn hóa chỉ phục vụ những nhiệm vụ chính trị trước mắt, càng không phải là sự hòa tan văn hóa vào chính trị. Ý nghĩa sâu xa của tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị văn hóa phải thấm vào hoạt động chính trị, làm cho chính trị hướng tới con người, phục vụ Nhân dân, đề cao đạo đức, trách nhiệm, dân chủ và lợi ích chung. Đồng thời, một nền chính trị tiến bộ phải tạo điều kiện để văn hóa phát triển và phát huy được chức năng sáng tạo, giáo dục, định hướng của mình.

Thứ hai, văn hóa có quan hệ biện chứng với kinh tế. Nếu kinh tế là nền tảng, tạo nên cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần, định hướng sự phát triển ấy. Với vị trí đó, văn hóa không chỉ là kết quả của quá trình phát triển mà còn đồng thời là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển bền vững. Vì thế, chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, thực chất là củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, bồi đắp hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin và năng lực sáng tạo của con người. Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và xã hội… Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”[7]. Nếu không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Luận điểm văn hóa “phải ở trong kinh tế và chính trị”[8] của Hồ Chí Minh, trước hết khẳng định mối quan hệ, hơn nữa là mối quan hệ hết sức gắn bó giữa văn hóa nghệ thuật với kinh tế và chính trị. Văn hóa không thể đứng ngoài kinh tế và chính trị, mà phải trở thành yếu tố bên trong của những lĩnh vực này. Chính trong sự gắn kết đó, văn hóa vừa là kết quả, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế, đồng thời vừa tạo ra những điều kiện tinh thần, giá trị và chuẩn mực cần thiết để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Các nhân tố văn hóa gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương..., trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội. Vì thế, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội được tìm trong văn hóa, trong nguồn lực con người, trong tiềm năng sáng tạo của con người và trong các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như tinh hoa văn hóa nhân loại. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì tự do, hạnh phúc của con người, vì phúc lợi của nhân dân[9].

Thứ ba, văn hóa gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội và các quan hệ giữa con người với con người. Văn hóa không chỉ biểu hiện trong văn học, nghệ thuật, giáo dục hay các thiết chế văn hóa mà còn hiện diện trong cách con người ứng xử với bản thân, với gia đình, cộng đồng và xã hội; trong đạo đức, lối sống, pháp luật, kỷ cương và các quan hệ xã hội. “Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới đủ điều kiện phát triển được”[10]. Theo Người, văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn bó hưu cơ với cơ sở hạ tầng, vì thế văn hóa có nhiệm vụ góp phần thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, trở thành một động lực to lớn của sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội.

Hồ Chí Minh yêu cầu văn hóa đi sâu vào tâm lý quốc dân: “Đối với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng. Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi... Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”[11]. Điều đó cho thấy văn hóa vừa có phản ánh trạng thái của đời sống xã hội, vừa có khả năng cải biến xã hội. Văn hóa vì thế trở thành một phương thức quan trọng để củng cố sự đồng thuận xã hội, tăng cường đoàn kết, điều chỉnh hành vi và tạo nên trật tự xã hội dựa trên nền tảng pháp luật và nền tảng đạo đức, niềm tin và các giá trị được cộng đồng thừa nhận.

Thứ tư, con người là điểm hội tụ và là chủ thể kết nối văn hóa với chính trị, kinh tế và xã hội. Hồ Chí Minh viết: “… Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn”[12]. Đây là chiều sâu đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là mục đích của cuộc sống, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Văn hóa do con người sáng tạo, được lưu truyền thông qua con người và cuối cùng cũng hướng tới phát triển con người. Đồng thời, mọi hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội cũng đều do con người tiến hành và nhằm phục vụ con người. Vì vậy, con người chính là điểm gặp gỡ giữa văn hóa và các lĩnh vực khác.

Từ đó có thể thấy, mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế và xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ và tác động qua lại. Chính trị tạo môi trường và định hướng cho sự phát triển văn hóa, đồng thời văn hóa thấm sâu vào chính trị, góp phần xây dựng lý tưởng, đạo đức và trách nhiệm đối với Nhân dân; kinh tế tạo cơ sở vật chất cho văn hóa, trong khi văn hóa thông qua con người trở thành động lực và nguồn lực nội sinh của phát triển kinh tế; đời sống xã hội vừa là môi trường sản sinh văn hóa, vừa là đối tượng để văn hóa tác động, điều chỉnh và nâng cao. Thông qua đó, văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và một trong những động lực quan trọng của sự phát triển đất nước vì con người.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”[13]. Quan điểm này không chỉ khẳng định vị trí của văn hóa mà còn đặt ra yêu cầu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực cơ bản khác của đời sống xã hội.

Tiếp tục phát triển nhận thức đó, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vũng đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”[14]. Nếu Nghị quyết số 33-NQ/TW đặt ra yêu cầu văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, thì Nghị quyết 80-NQ/TW tiếp tục làm rõ hơn chiều sâu của mối quan hệ đó: văn hóa không chỉ là một lĩnh vực cần được quan tâm tương xứng, mà những giá trị văn hóa còn phải thấm vào mục tiêu, nội dung và phương thức vận hành của các lĩnh vực khác, trở thành một yếu tố tham gia điều tiết và nâng cao chất lượng của quá trình phát triển. “Văn hoá phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội”[15]. Như vậy, sự nhất quán và phát triển trong nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa, đồng thời làm nổi bật giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về mới quan hệ hữu cơ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế và đời sống xã hội.


[1] Hồ Chí Minh (1997), Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 11.

[2] Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021), Từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946 đến Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021, ngày 24/11/2021.

[3] Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên) (2017), Từ điển Hồ Chí Minh học, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 637 (Dẫn theo: Hồ Chí Minh (1971), Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 72).

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 13, tr. 504.

[5] Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên) (2017), Từ điển Hồ Chí Minh học, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 637 (Dẫn theo: Hồ Chí Minh (1971), Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 72).

[6] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.7, tr. 246.

[7] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.7, tr. 246; tập 12, tr. 470.

[8] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.7, tr. 246.

[9] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2022), Thường thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 104-105.

[10] Hồ Chí Minh (1997), Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 320.

[11] Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên) (2017), Từ điển Hồ Chí Minh học, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 637 (Dẫn theo: Hồ Chí Minh (1971), Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 72).

[12] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 3, tr. 458.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 48.

[14] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tr. 2.

[15] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tr. 2.