
Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá”. Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới”[1].
Trong dòng chảy của kỷ nguyên số và những cam kết toàn cầu về phát triển bền vững, Việt Nam đang đứng trước một “thời điểm vàng” để bứt phá. Thế nhưng, để con tàu kinh tế có thể vận hành với tốc độ cao và an toàn, không chỉ cần những động cơ mạnh mẽ từ nguồn lực tài chính hay công nghệ, mà quan trọng hơn cả là một hệ thống “đường ray” thể chế đồng bộ, hiện đại và thông suốt.
Những bước ngoặt “cởi trói” nguồn lực
Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận những đột phá tư duy mạnh mẽ trong công tác lập pháp, tạo ra những xung lực mới cho nền kinh tế thông qua các trụ cột chính:
Một là, đột phá từ đất đai: Luật Đất đai 2024 đánh dấu bước chuyển từ cơ chế hành chính sang cơ chế thị trường. Việc loại bỏ “khung giá đất” giúp minh bạch hóa giá trị, khơi thông hàng triệu tỷ đồng vốn bị "đóng băng" do các dự án chậm giải phóng mặt bằng.
Hai là, kiến tạo thị trường bất động sản bền vững: Việc ban hành đồng bộ Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) đã thiết lập hệ sinh thái pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, ngăn chặn đầu cơ và thu hút dòng ngoại hối ổn định từ kiều bào.
Ba là, xác lập “xương sống” cho kinh tế số: Luật Giao dịch điện tử 2023 tháo gỡ điểm nghẽn về tính pháp lý của thông điệp dữ liệu và chữ ký số, cho phép doanh nghiệp tối ưu hóa vận hành xuyên biên giới mà không cần hiện diện vật lý.
Bốn là, cải cách hành chính theo tư duy phục vụ: Cắt giảm hơn 3.000 quy định chồng chéo giúp doanh nghiệp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”.
Năm là, thể chế hóa tăng trưởng xanh: Lần đầu tiên các khái niệm Kinh tế tuần hoàn và Thị trường carbon được luật hóa, biến việc giảm phát thải thành một loại hình tài sản mới, giúp doanh nghiệp thích ứng với tiêu chuẩn ESG toàn cầu.
Nhận diện 5 “điểm nghẽn” cần khơi thông
Thứ nhất, sự chồng chéo và thiếu thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Đây là hạn chế tồn tại lâu nay nhưng chưa được giải quyết triệt để, tạo ra sự xung đột trực tiếp giữa các luật chuyên ngành như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và Luật Đất đai. Hệ quả thực thi tự sự thiếu đồng bộ khiến các cơ quan hành pháp lúng túng khi một hành vi kinh tế bị điều chỉnh đồng thời bởi nhiều luật với các quy định khác nhau. Bên cạnh đó là các rủi ro pháp lý từ tình trạng “đúng luật này nhưng sai luật kia” tạo ra rào cản tâm lý cực lớn, gây đình trệ trong việc phê duyệt các dự án đầu tư công và tư nhân, làm lỡ nhịp đà phát triển của doanh nghiệp.
Thứ hai, tâm lý e ngại, “sợ sai” và đùn đẩy trách nhiệm trong thực thi.
Thể chế hiện tại chưa tạo ra được một cơ chế bảo vệ hữu hiệu và thực chất cho những người dám nghĩ, dám làm. Lá chắn pháp lý chưa đủ mạnh nên Nghị định số 73/2023/NĐ-CP đã được ban hành để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo nhưng các tiêu chí then chốt như “lợi ích chung” và “không có động cơ vụ lợi” vẫn chưa được định lượng rõ ràng trong các luật chuyên ngành. Điều này dẫn đến việc cán bộ có xu hướng đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên hoặc kéo dài thời gian xử lý thủ tục để đảm bảo an toàn cá nhân, làm giảm hiệu lực thực tế của công tác hoàn thiện thể chế tại cơ sở.
Thứ ba, sự chậm trễ và tính “đối phó” đối với các mô hình kinh tế mới.
Tốc độ phát triển của công nghệ diễn ra nhanh chóng nhưng việc ban hành khung khổ pháp lý thường đi sau thực tiễn, làm mất đi nhiều cơ hội của doanh nghiệp. Ở Việt Nam còn khoảng trống pháp lý số như còn thiếu các quy định chi tiết về quản lý tài sản ảo, tiền ảo và đặc biệt là cơ chế thử nghiệm (Sandbox) cho Fintech. Có những “nút thắt” kinh tế như trong lĩnh vực kinh tế xanh, các quy định về thị trường tín chỉ carbon vẫn đang trong quá trình xây dựng, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn xanh quốc tế.
Thứ tư, khoảng cách giữa văn bản pháp luật và quá trình thực thi thực tế.
Tình trạng “Luật chờ Nghị định” vẫn là một bài toán khó, làm giảm tính kịp thời và hiệu lực của các chính sách mới khi vừa ban hành. Việc chậm trễ trong việc ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn dưới luật làm giảm hiệu lực của các đạo luật quan trọng như Luật Đất đai hay Luật Khám chữa bệnh. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý tạm thời, khiến các giao dịch kinh tế bị ngưng trệ và làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư vào tính ổn định của môi trường kinh doanh.
Thứ năm, phân cấp, phân quyền chưa gắn liền với năng lực thực thi và giám sát.
Việc đẩy mạnh quyền tự quyết cho địa phương nhưng thiếu các công cụ giám sát hiệu quả và nguồn lực đi kèm đã tạo ra sự không đồng nhất trong quản lý. Nhiều địa phương được trao quyền tự quyết trong đầu tư nhưng bộ máy và hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng kịp, dẫn đến nguy cơ sai phạm hoặc lãng phí ngân sách. Ngược lại, có những nội dung phân quyền chưa triệt để khiến địa phương vẫn phải xin ý kiến Trung ương cho những đầu việc nhỏ, làm triệt tiêu tính chủ động và phản ứng chính sách tại cơ sở.
Nhóm giải pháp chiến lược đến năm 2045
Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai quyết liệt:
Một là, hoàn thiện kinh tế thị trường: Ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn về đầu tư công và dự án PPP; xây dựng cơ chế định giá tài sản công linh hoạt để thu hút tư nhân khai thác hạ tầng.
Hai là, chiến lược tăng trưởng xanh: Luật hóa cam kết Net Zero vào các luật chuyên ngành như Luật Điện lực; vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon minh bạch để thương mại hóa việc giảm phát thải.
Ba la, chuyển đổi số trong quản trị: Triển khai cơ chế Sandbox hỗ trợ AI, Blockchain; xóa bỏ tình trạng “ốc đảo dữ liệu” để ra quyết định dựa trên bằng chứng (data-driven).
Bốn là, nâng cao năng lực thực thi: Luật hóa cơ chế bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám làm”; chuyển từ kiểm tra quy trình sang đánh giá hiệu quả đầu ra và số hóa hệ thống phản hồi chính sách.
Thể chế tốt - Di sản cho thế hệ tương lai
Hoàn thiện đồng bộ thể chế không phải là công việc của riêng một nhiệm kỳ mà là một hành trình bền bỉ. Khi những điểm nghẽn được khơi thông, khi tư duy phục vụ thay thế hoàn toàn tư duy quản lý, “con tàu” Việt Nam sẽ có đủ tự tin để băng băng tiến ra biển lớn.
Hoàn thiện thể chế hôm nay chính là món quà giá trị nhất mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau, bảo đảm rằng thịnh vượng không chỉ là một mục tiêu mà là một thực tế hiển hiện trên đất nước Việt Nam vào năm 2045./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.I, tr.28.
