Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đề cao vai trò của trí thức, chú trọng phát hiện, thu hút, đào tạo và tạo điều kiện để họ cống hiến cho cách mạng, kháng chiến và kiến thiết đất nước. Kỹ sư Phạm Quang Lễ, tức Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một minh chứng trong tư tưởng trọng dụng trí thức của Người. Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng kế thừa trong chủ trương thu hút, đãi ngộ và phát huy đội ngũ trí thức, nhân tài hiện nay

 Quan điểm trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh

Xuất thân trong một gia đình trí thức, ngay từ khi còn là một thanh niên trí thức yêu nước, Hồ Chí Minh luôn có tinh thần cảm phục và quý trọng trí thức. Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã quy tụ và tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng trí thức, từng bước dẫn dắt, cảm hóa những trí thức yêu nước đi theo cách mạng với những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt.

Người luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức cả về phẩm chất đạo đức và năng lực nghiên cứu khoa học để có khả năng gánh vác và làm tròn sứ mệnh nặng nề nhưng vẻ vang mà nhân dân giao phó. Người cho rằng, sự giác ngộ cách mạng của trí thức không đồng đều, nhưng là mỗi người dân Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước, chỉ cần được khơi dậy và phát huy. Theo Người: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”1.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước đứng trước tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý tìm kiếm người tài đức để gánh vác việc nước.

Người khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển thêm nhiều”2.

Ngày 20/11/1946, Người tiếp tục gửi thông điệp “Tìm người tài đức”, kêu gọi nhân sĩ, trí thức tham gia kháng chiến, kiến thiết đất nước: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức”3.

Với tấm lòng yêu nước, thương dân, vì nước, vì dân, trước lời kêu gọi chân thành của Người, nhiều trí thức trong và ngoài nước đã trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến và kiến thiết, tiêu biểu có Phạm Quang Lễ, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh, Trần Hữu Tước...

Không chỉ “tìm người tài đức”, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến điều kiện sống, làm việc của trí thức; ứng xử với trí thức bằng sự chân thành, khoan dung và thủy chung. Phong cách gần gũi, trọng nghĩa tình ấy góp phần quy tụ đông đảo trí thức phục vụ cách mạng, tiêu biểu là Kỹ sư Phạm Quag Lễ, tức Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa.

Bác Hồ với GS,VS Trần Đại Nghĩa (Ảnh tư liệu)

Được Bác Hồ cảm hóa, về nước tham gia kháng chiến toàn quốc

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ), sinh ra và lớn lên trên vùng đất Vĩnh Long giàu truyền thống yêu nước, hiếu học. Dù hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông vẫn nỗ lực học tập, lần lượt thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học Mỹ Tho năm 1926, đến năm 1930, được tuyển thẳng vào Trường trung học Pêtruýt Ký (Sài Gòn) và đỗ thủ khoa tú tài bản xứ vào năm 1933 khi tròn 20 tuổi.

Năm 1935, ông sang Pháp học tập. Trong hơn 10 năm ở châu Âu, Phạm Quang Lễ được nhiều nhà máy, viện nghiên cứu tại Pháp và Đức mời làm việc. Năm 1946, ông là kỹ sư trưởng của một hãng nghiên cứu chế tạo máy bay tại Pháp với mức lương cao.

Ngày 16/9/1946, đúng 11 năm xa xứ, Kỹ sư Phạm Quang Lễ tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh rời thủ đô Cộng hoà Pháp trở về Tổ quốc.

Sau này, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa kể lại: “Một hôm Bác nói với tôi rất tự nhiên: Ngày kia, Bác về nước. Chú về theo Bác. Bác không hỏi tôi là chú muốn về hay không. Tuy vậy đối với tôi, việc về nước đã được tôi chuẩn bị từ lâu”4.

Trên hành trình trở về Tổ quốc, “đêm 11/10/1946, trời tối, trên tàu còn có một mình Bác và tôi, Bác chỉ hỏi tôi có hai câu.

Câu thứ nhất “Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu nổi không?”.

Tôi trả lời: “Thưa Bác, tôi chịu nổi”.

Câu thứ hai Bác hỏi là: “Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có. Máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?”.

Tôi nói: “Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là làm được”5.

Sau khi về nước được ít ngày, Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới và đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa.

Khi đặt tên mới cho Phạm Quang Lễ, Người chia sẻ: “Công việc Bác giao cho chú là vì Đại Nghĩa, bởi thế Bác đặt tên mới cho chú là Trần Đại Nghĩa6.

Kỹ sư Trần Đại Nghĩa và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Triển lãm vũ khí của ngành quân giới, năm 1950.(Ảnh tư liệu)

Đóng góp lớn cho ngành quân giới Việt Nam

Được tin tưởng giao trọng trách, Trần Đại Nghĩa miệt mài nghiên cứu, chỉ đạo thiết kế, tổ chức sản xuất nhiều loại vũ khí phù hợp với điều kiện chiến tranh nhân dân và chiến trường Việt Nam. Ông cùng cán bộ quân giới nghiên cứu, chế tạo thành công súng Bazôka, súng SKZ, đạn bay và nhiều loại vũ khí có hiệu quả chiến đấu cao. Những loại vũ khí này đã được bộ đội ta đã sử dụng trong nhiều trận đánh trên khắp các chiến trường, đạt hiệu quả cao trong tiêu diệt xe tăng, tàu chiến, đồn bốt, lô cốt kiên cố của địch, hạn chế được thương vong của bộ đội...., gây nỗi kinh hoàng cho quân đội viễn chinh Pháp.

Trong điều kiện đất nước, quân đội còn nhiều khó khăn, Trần Đại Nghĩa chủ trương tận dụng nguyên liệu sẵn có, giúp các địa phương tự chế tạo lựu đạn, mìn và nhiều loại vũ khí thông thường. Cách làm đó góp phần tăng nguồn vũ khí cho lực lượng vũ trang, thúc đẩy chiến tranh du kích, đồng thời thể hiện sự vận dụng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và phương châm “tự cấp, tự túc” vũ khí đánh giặc. Với vũ khí, trang thiết bị được tăng cường, cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ tình thế “châu chấu đá xe”, gặp nhiều bất lợi về trang thiết bị lúc ban đầu, đã từng bước đi lên, giành được thế chủ động chiến lược, thu được nhiều thắng lợi.

Ngày 12/6/1952, với bút danh C.B, trong bài “Dân tộc anh hùng và anh hùng của dân tộc”, đăng trên Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương ông: “Là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là anh hùng lao động trí óc Trần Đại Nghĩa. Kỹ sư Nghĩa luôn luôn cố gắng làm đúng lời hứa: Khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi từ châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí rất giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc”. Kỹ sư Nghĩa có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành”7.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một trong những minh chứng về tư tưởng trọng dụng trí thức của Hồ Chí Minh. Người không chỉ phát hiện, thu hút người tài mà còn đặt niềm tin, giao đúng việc, tạo điều kiện để trí thức phát huy năng lực và cống hiến cho đất nước. Trọng dụng trí thức vì thế là một nội dung quan trọng trong chiến lược con người và chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người.

Kế thừa, phát huy và vận dụng tư tưởng trọng dụng trí thức, nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay tại Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng. Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức”8.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2045 “trở thành nước phát triển, thu nhập cao”9

Chỉ có trọng dụng và sử dụng được nhân tài, đất nước ta mới có thêm cơ hội phát triển nhanh, thực hiện được những mục tiêu đã đề ra.

__________________________________

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, H.2011, t.5, tr.275.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.114.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.504.
4Trần Đương: Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức, Nxb. Thông Tấn, Hà Nội, 2005, tr.25.
5 Phạm Bá Nhiễu (Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh): Trần Đại Nghĩa - Người trí thức đáng kính, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội, 2012.
6 Trần Đương: Những người được Bác Hồ đặt tên, Nxb. Văn hóa - Thông tin. Hà Nội, 2006, tr. 114.
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.422.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr.167.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr.289.