Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đi tìm hạnh phúc cho nhân dân, ấm no cho mỗi gia đình, mỗi con người. Quan điểm của Người về gia đình có ý nghĩa quan trọng đối với việc gìn giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Với mong muốn xây dựng gia đình tốt đẹp, ngày 27/5/1955, Người viết bài “Gia đình gương mẫu” đăng trên báo Nhân Dân số 450
Kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa Á Đông về gia đình, như quan điểm của Nho giáo: “Tam cương” (các mối quan hệ: Vua - tôi; cha - con; vợ - chồng), “Ngũ thường” (nhân - nghĩa - lễ - trí - tín); quan điểm của Phật giáo về tính hướng thiện, gia đình hòa thuận, chung sống an vui và nhất là quan điểm của Mác - Lênin về gia đình đã giúp Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hình thành những lý luận về gia đình.
C. Mác và Ăngghen đã coi gia đình là một trong ba mối quan hệ của con người được hình thành trong lịch sử nhân loại và quan hệ gia đình tham gia vào quá trình phát triển của lịch sử, “hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái”[1]. Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” đã phân tích rõ vai trò gia đình là tế bào của xã hội; mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội.
Từ những giá trị văn hóa truyền thống của nhân loại, của dân tộc, của gia đình, đến khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình, “gia đình là hạt nhân của xã hội”[2] và “Hạt nhân của xã hội là gia đình”[3].

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi (Ảnh tư liệu)
Hồ Chí Minh là Người đầu tiên đưa ra khái niệm về gia đình Việt Nam theo quan điểm cách mạng, mang cả nghĩa cũ và mới, rộng và hẹp, to và nhỏ: “Gia” là nhà. “Đình” là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong một cái nhà, cái sân…Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn”[4]. Cách nhìn của Người về gia đình rộng rãi hơn, to lớn hơn, đối với những người cùng lao động trong nhà máy, trong một cơ quan, một hợp tác xã thì đều phải đoàn kết, thương yêu nhau như anh em trong một gia đình và nhìn rộng ra nữa thì đồng bào cả nước đều là anh em trong một gia đình.
Trong bối cảnh nhân dân miền Bắc vừa tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Nam đang kiên cường chống đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Gia đình gương mẫu”.
Người khẳng định: “Gia đình không gì quý hơn con. Loài người không gì quý bằng Tổ quốc. Những gia đình có bao nhiêu con đều hiến cả cho Tổ quốc là những gia đình gương mẫu vẻ vang. Dân tộc có những gia đình như vậy thì nhất định tự do, độc lập”[5].
Hồ Chí Minh cho rằng mỗi chúng ta đều có hai gia đình, gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình là Tổ quốc. Người làm cách mạng, đi theo cách mạng phải luôn sẵn sàng hy sinh gia đình nhỏ - gia đình riêng của mình cho gia đình lớn - Tổ quốc. Người phân tích vì sao phải lựa chọn như vậy: “Gia đình to (là cả nước) và gia đình nhỏ: cái nào nặng, cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to.” vì người cách mạng biết nếu gia đình to bị áp bức, bóc lột thì gia đình nhỏ sẽ suy sụp, không phát triển được. Vì vậy, không thể bo bo giữ gia đình nhỏ mà không nghĩ đến gia đình to. Đấy là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung. Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng. Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một. Mà phải chọn cái ích chung... Nếu phải hy sinh gia đình nhỏ cho gia đình lớn cũng phải làm. Phải dứt khoát, tuyệt đối không được chọn gia đình nhỏ. Có một số cán bộ không yên tâm công tác là vì không hiểu cái đó. Phải hy sinh cái riêng, cái nhỏ để phục vụ cái chung, cái to”[6]. Vì mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, mọi người dân đều có cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung đã có hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc”[7]. Còn trường hợp giành được “tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Người nhấn mạnh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”[8]. Đối với cá nhân mình, Người tự nhận rằng, “Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam”[9].

Gia đình luôn gắn với quê hương, đất nước - Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một lần về thăm quê (Ảnh tư liệu)
Do đó, Người rất trân trọng và biết ơn những gia đình có nhiều người con anh dũng hy sinh vì đất nước. Người biểu dương công lao to lớn ấy của các gia đình: “Trong những dịp tặng thưởng huân chương, Chính phủ ta đã thay mặt nhân dân tỏ lòng kính trọng và biết ơn những gia đình có nhiều con tham gia bộ đội, bảo vệ Tổ quốc. Chỉ tính từ Khu IV trở ra và con số chưa thật đầy đủ, thì: - Cụ Nguyễn Thị Đạo (xã Đại Trực, Nam Định) có 7 con đẻ, 1 con nuôi tòng quân (3 liệt sĩ). - Cụ Nguyễn Văn Chạc (xã Hải Yến, Hải Dương) có 7 con tòng quân. - Cụ Nguyễn Nam Quát (xã Đồng Hỷ, Thái Nguyên) có 7 con tòng quân. - Cụ Nguyễn Xuân Tạo (xã Tam Canh, Vĩnh Phúc) có 7 con tòng quân. - Cụ Nguyễn Đình Quỳ (xã Tri Cụ, Bắc Giang) có 5 con trai, 2 con dâu tòng quân. - Cụ Hà Thị Đình Tuân (xã Yên Dũng, Bắc Giang) có 2 con trai, 3 gái, 1 dâu, 1 cháu tòng quân. 9 gia đình có 6 con tòng quân 36 gia đình có 5 con tòng quân. 1.613 gia đình có 3 hoặc 4 con tòng quân”[10].
Ngày 10/10/1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”[11].
Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua ngày 29/12/1959, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng là một cuộc cách mạng và thực hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình có ý nghĩa quan trọng “gia đình sẽ có hạnh phúc, và sẽ góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[12].
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ngày càng bước vào giai đoạn khó khăn, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các gia đình phải thực hiện đoàn kết để đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thống nhất nước nhà: “Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết. Đại đoàn kết là sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”[13].
Cũng với ý nghĩa đó, trong bài nói tại Hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hơn nữa về giá trị gia đình trong xây dựng xã hội miền Bắc, là xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, là đại gia đình của mọi tầng lớp nhân dân, cho nên các dân tộc anh em phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ, phấn đấu cho lợi ích chung của Tổ quốc.
Như vậy, từ những giá trị gia đình truyền thống, Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên thành giá trị gia đình cách mạng với ý nghĩa rộng lớn hơn. Gia đình thông thường với nghĩa là “nhà”, lên nhiều nhà, tập thể, xã hội, đất nước, Tổ quốc. Hạt nhân của xã hội là gia đình, muốn xây dựng xã hội tốt, phải xây dựng gia đình tốt. Gia đình nhỏ là cái riêng, khi cần lựa chọn, phải lựa chọn gia đình lớn, hy sinh cái riêng vì cái chung và theo Người dù bất cứ ở chế độ xã hội nào thì “gia đình chung hạnh phúc”, “gia đình riêng mới hạnh phúc”.
Sau hơn 40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện về chính sách, pháp luật về gia đình, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng (2026), tiếp tục khẳng định vai trò của gia đình trong xã hội, chủ trương “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”[14].
[1] C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, t.3, tr41.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr 538.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr 300.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr 312.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr 487.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr 99.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr100.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr175.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr300.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr 488.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr300.
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr391.
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr524.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, tập I, tr 97.
