Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, là truyền thống quý báu và là nguyên tắc sống còn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lợi dụng những khó khăn trong quá trình phát triển và sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, bóp méo nhằm cắt đứt mối liên hệ thiêng liêng này. Đập tan các luận điệu sai trái, củng cố vững chắc "thế trận lòng dân" không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là bệ phóng để đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Dã tâm cắt đứt cội nguồn sức mạnh của dân tộc

Thời gian qua, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện dã tâm đó, một trong những mũi nhọn chúng tập trung công kích chính là chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, tạo ra sự đối lập giả tạo giữa bộ máy cầm quyền và quần chúng lao động. Để thực hiện dã tâm đó, các thế lực thù địch thường sử dụng các thủ đoạn sau:

Một là, cố tình đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để quy kết thành bản chất khi lợi dụng những hiện tượng tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị tha hóa, chúng quy chụp đó là bản chất của toàn Đảng. Chúng rêu rao những luận điệu đầy tính kích động rằng Đảng đã biến chất, không còn là Đảng của nhân dân, mà là "Đảng của quan chức", "Đảng của tầng lớp ưu tú", "Đảng của người giàu" và không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hai là, đánh đồng thể chế một đảng duy nhất cầm quyền với sự độc tài, chuyên chế. Chúng lập luận một cách ngụy biện rằng, nếu Đảng thực sự "liên hệ mật thiết với Nhân dân" thì phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để nhân dân có nhiều sự lựa chọn. Chúng rêu rao rằng cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ" chỉ là khẩu hiệu mị dân, và việc một đảng cầm quyền tất yếu dẫn đến vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị".

Ba là, lợi dụng những vấn đề kinh tế - xã hội khó khăn, những bức xúc cục bộ về đất đai, môi trường, hay các sai phạm trong thực thi công vụ để kích động tâm lý bất mãn, khoét sâu mâu thuẫn xã hội. Mục tiêu thâm độc của chúng là gieo rắc sự hoài nghi, ly tán niềm tin của nhân dân vào chế độ, làm suy giảm uy tín của Đảng, tạo ra một "khoảng trống quyền lực" trong lòng dân để tiến hành "cách mạng màu", "diễn biến hòa bình".

Những thủ đoạn này hòng phá vỡ "hậu thuẫn chính trị" vững chắc nhất của Đảng là niềm tin của Nhân dân, từ đó tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng và chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Chân lý lịch sử và cơ sở pháp lý vững chắc

Về mặt lý luận và lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc, do đó Đảng thực sự là “con nòi” của nhân dân, của dân tộc, được nhân dân đùm bọc, che chở và nuôi dưỡng. Tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng đều có nguồn gốc xuất thân từ giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và người lao động tự nguyện gia nhập Đảng. Khác với các đảng phái chính trị tư sản đại diện cho một nhóm lợi ích thiểu số, mục đích lý tưởng cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là giành độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; ngoài lợi ích của nhân dân và quốc gia, dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác.

Về cơ sở pháp lý, sự gắn bó mật thiết và trách nhiệm của Đảng trước Nhân dân được hiến định một cách thiêng liêng. Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ ràng: "Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình". Thể chế hóa nguyên tắc này, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đây là minh chứng đanh thép đập tan luận điệu cho rằng Đảng đứng trên pháp luật hay đứng ngoài nhân dân.

Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong suốt các chặng đường kháng chiến kiến quốc, nếu không có sự chở che, hy sinh và đồng lòng của nhân dân, Đảng không thể tồn tại và lãnh đạo đất nước đi đến thắng lợi cuối cùng. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân.

Minh chứng thực tiễn sinh động bác bỏ luận điệu xuyên tạc

Sức thuyết phục lớn nhất để bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc mỗi quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân chính là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới.

Thực tế đã chứng minh, một đảng duy nhất cầm quyền hoàn toàn có thể mang lại nền dân chủ thực chất và sự phát triển vượt bậc nếu đảng đó đại diện cho lợi ích của đại đa số nhân dân. Quan điểm cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ là hoàn toàn ngụy biện. Nhiều nước đa đảng trên thế giới hiện nay vẫn chìm trong xung đột, bất công, phân hóa giai cấp sâu sắc. Trong khi đó, dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất, Việt Nam đã vươn lên từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đói nghèo, quy mô chỉ 14 tỷ USD (năm 1985) trở thành nền kinh tế có quy mô hơn 400 tỷ USD, thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Đảng ta không đánh đổi môi trường hay công bằng xã hội lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Thành quả của đổi mới luôn hướng tới người dân. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh và liên tục (chỉ còn dưới 3% vào năm 2020), chỉ số Phát triển con người (HDI) liên tục thăng hạng, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có mức phát triển con người cao. Các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân, chương trình xây dựng nông thôn mới... là minh chứng rõ ràng nhất cho phương châm "mọi thành quả phát triển đều vì nhân dân".

Bên cạnh đó, việc thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào thực chất. Quy chế dân chủ ở cơ sở được pháp điển hóa bằng Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, đảm bảo nguyên tắc: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân được tham gia trực tiếp vào việc góp ý các dự thảo luật, giám sát hoạt động của chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hướng đến lợi ích của đại đa số nhân dân, không phải là thứ "dân chủ giả hiệu" phục vụ cho các tập đoàn tư bản như các thế lực thù địch rêu rao.

Ngoài ra, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ bao che cho tham nhũng. Trái lại, Đảng coi tham nhũng là "giặc nội xâm", là kẻ thù đe dọa sự tồn vong của chế độ. Công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian qua được thực hiện một cách bài bản, quyết liệt, "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", bất kể người đó là ai. Hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm, kể cả những cán bộ cấp chiến lược, đã bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Sự quyết liệt này không phải là "đấu đá nội bộ" như luận điệu xuyên tạc, mà chính là hành động thiết thực nhất để bảo vệ Nhân dân, củng cố mối liên hệ máu thịt với Nhân dân. Càng đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng càng mạnh lên, càng củng cố được lòng tin của nhân dân. Việc sàng lọc, đưa những đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi tổ chức chính là quá trình "tự cách mạng", "tự soi, tự sửa", gia cố màng lọc để thanh lọc cơ thể Đảng. Thái độ nghiêm minh, không khoan nhượng với sai phạm chính là minh chứng cho sự trong sạch và bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, là luận cứ đanh thép nhất đập tan mọi mưu đồ lợi dụng một số hạn chế, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên để chia rẽ Đảng với Nhân dân.

Bảo vệ nguyên tắc Đảng gắn bó máu thịt với Nhân dân không chỉ là việc phản bác lại bằng lý luận, mà phải được chứng minh bằng hành động thực tiễn. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là "công bộc" của dân, lấy "yên dân" làm nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Chỉ khi lòng dân vững mạnh, được củng cố bằng tri thức và niềm tin mới tạo nên một "bức tường thành" vững chắc để phản bác mọi mưu đồ xuyên tạc cội nguồn sức mạnh của Đảng.