Gần 40 năm sắp trôi qua kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới do Đại hội VI (12/1986) khởi xướng, đất nước đã có được những điều kiện căn bản để chuyển mình bước vào một thời kỳ phát triển mới. Bài viết này bày tỏ những suy nghĩ quanh một số câu hỏi có tính chất khái quát liên quan đến đổi mới của Đại hội VI, qua đó người đọc có những hiểu biết hơn về đổi mới và bản lĩnh của Đảng

Một là, tại sao Việt Nam phải đổi mới và đổi mới để làm gì?

Những năm của thập niên 1980, trên thế giới, sự phát triển của các quốc gia ở những mức độ khác nhau, đều chịu ảnh hưởng, tác động nhiều mặt của cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế tri thức; nhân loại cũng bắt đầu đối diện với những vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự liên kết hợp tác của nhiều nước để cùng giải quyết; quan hệ quốc tế hình thành xu thế đối thoại thay cho đối đầu; các nước không phân biệt ý thức hệ, thể chế chính trị - xã hội, tùy điều kiện thực tế, đều có những điều chỉnh, cải cách, mở cửa… để thích nghi, phát triển.

Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và kém phát triển thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo, lạc hậu, chống sự xâm phạm từ các lực lượng bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau đến độc lập, chủ quyền đất nước vẫn phức tạp, gay gắt. Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu bộc lộ nhiều khuyết tật, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, trì trệ, chính trị xã hội bất ổn, nguy cơ của sự sụp đổ, tan rã ngày một hiện hữu.

Việt Nam, sau hơn 10 năm cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp đã lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lưu thông phân phối rối ren, lạm phát ở mức 3 con số (774,7% năm 1986), niềm tin của nhân dân với Đảng suy giảm nghiêm trọng. Đất nước bị bao vây, cấm vận, cô lập, nhiều nguồn viện trợ bị cắt giảm... Thực tiễn ở nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội có tình trạng lý luận, sự lãnh đạo của Đảng không theo kịp thực tiễn, bị thực tiễn vượt qua.

Như vậy, Việt Nam đổi mới xuất phát từ yêu cầu bức thiết, đòi hỏi sống còn của nội tại đất nước, sự tồn vong của chế độ, từ sự tác động, chi phối, ảnh hưởng bởi xu thế đổi mới, cải cách, hội nhập kinh tế quốc tế...của thế giới.

Việt Nam đổi mới để: đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ; nhận thức lại, nhận thức rõ hơn và nhận thức đúng nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó từng bước xác lập nên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam, của Việt Nam; phù hợp, đúng với xu thế vận động của thời đại và sự phát triển của nhân loại, qua đó tranh thủ mọi nguồn lực, sức mạnh tổng hợp nhằm phấn đấu xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc đổi mới (Ảnh tư liệu)

Hai là, vào thời điểm đó, Việt Nam có gì để đổi mới?

Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận sẽ có những luận giải riêng cho vấn đề Việt Nam có gì để đổi mới. Song, với sự tiếp cận, giải quyết vấn đề theo hướng song hành cả mặt tích cực và hạn chế có thể khái quát những gì Việt Nam có để đổi mới là:

Thứ nhất, có cơ sở lý luận, nguyên lý xây dựng chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác - Ăng ghen – Lênin, đặc biệt là tư duy, quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh.

Thứ hai, có kinh nghiệm của Đảng trong 21 năm lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954-1975) và hơn 11 năm lãnh đạo cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1986). Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học từ sự không thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ tình cảnh đất nước “ở bức đường cùng, bị dồn vào chân tường”, buộc phải thoát ra để tìm đường sống.

Thứ ba, có thực tiễn lịch sử từ mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực đã, đang được xây dựng ở nhiều nước khác nhau (Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu…) trong hơn 40 năm.

Thứ tư, bên cạnh những khó khăn, thách thức của tình hình quốc tế, trong nước thì Việt Nam cũng có được những thuận lợi, thời cơ từ quốc tế đem lại và những cơ sở vật chất, kỹ thuật bước đầu từ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, có sự khảo nghiệm thực tiễn từ những “đổi mới từng phần” ở nhiều phương diện, góc độ, lĩnh vực khác nhau, tạo ra sự kích thích, thôi thúc, động lực từ thực tiễn để bức phá.

Thứ sáu, có sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng; sự quyết tâm, dũng cảm dám đổi mới của Đảng; có sự đồng lòng và khát vọng, mong muốn xây dựng chế độ mới tốt đẹp của nhân dân và truyền thống của dân tộc (đoàn kết, tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo…)

Ba là, đổi mới cái gì?

Một là, Đảng tự đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy nhận thức, đây là yếu tố căn cốt, nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến thành công và hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng. Tư duy nhận thức của Đảng sẽ quyết định hoạt động lãnh đạo của Đảng. Đảng tự đổi mới thể hiện ở:

Quan điểm lãnh đạo, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật. Thẳng thắn nhận thức và thừa nhận những sai lầm, hạn chế trong lãnh đạo đất nước, chỉ rõ nguyên nhân của những sai lầm, hạn chế để khắc phục. Cần bố trí đúng cán bộ, đây là một khâu quan trong quyết định trong tiến hành công cuộc đổi mới.

Phong cách lãnh đạo và phương pháp làm việc, phải “lấy dân làm gốc”, phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, vận dụng đúng quy luật khách quan. Đặc biệt phải xây dựng một cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.

Đại hội XIV của Đảng đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới 

Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần về đúng nguyên lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan, và độ dài của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa nên thời kỳ quá độ rất lâu dài và khó khăn; chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn; phải xây dựng chủ nghĩa xã hội trên điều kiện thực tiễn của đất nước.

Tư duy kinh tế: về cơ chế quản lý kinh tế kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp, thực hiện cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp kế hoạch với thị trường; cơ cấu nền kinh tế là phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần; hoạt động kinh tế đối ngoại cần mở rộng và nâng cao hiệu quả.

Hai là, đổi mới vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước về kinh tế, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, phân định rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở. Xác định mối quan hệ: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là nề nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước.

Ba là, về các vấn đề xã hội, đây là lần đầu tiên Đảng xác định các vấn đề xã hội ở tầm chính sách xã hội để giải quyết và nhất quán quan điểm thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Đảng chú trọng, coi việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động. Xây dựng nền văn hoá mới và con người mới. Quan tâm đến lợi ích của các tầng lớp, giai cấp, là một trong những nhân tố động lực quan trọng để tập hợp, phát huy sức mạnh của nhân dân.

Đại hội VI, Đảng đề ra, mở đầu đường lối đổi mới đất nước, tạo bước ngoặt, đặt tiền đề, nền tảng cho quá trình từng bước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đồng thời mở ra quá trình không ngừng củng cố, xây dựng và phát triển Đảng vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới. Đại hội xác định được nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo, đã phù hợp, sát với thực tiễn hơn. Đề ra được các phương hướng, giải pháp cụ thể để thực hiện.

Đại hội VI minh chứng cho trí tuệ, bản lĩnh dũng cảm, dám thay đổi, dám làm, dám chịu trách nhiệm của Đảng. Khẳng định sâu sắc tinh thần, trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, đất nước và vai trò của Đảng – người định hướng, dẫn dắt, lãnh đạo nhân dân, đất nước vững bước vượt qua khó khăn, thách thức.

Hành trình gần trọn 40 năm đất nước đổi mới minh chứng sinh động cho giá trị, ý nghĩa của Đại hội VI, trí tuệ, bản lĩnh của Đảng. Đó là niềm tin, sức mạnh để đất nước hôm nay vững bước trên con đường của thời kỳ phát triển mới với những thắng lợi mới