
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân tích về cơ cấu của một nền kinh tế, trong đó, dựa vào sở hữu là một trong các cách tiếp cận. Việc phân chia các thành phần kinh tế nhìn dưới góc độ sở hữu khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Cách phân chia này bản chất là dựa vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, trước đây thường sử dụng khái niệm thành phần kinh tế để phân tích cơ cấu kinh tế dựa vào sở hữu. Gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu các thành phần kinh tế và vai trò của các thành phần kinh tế đó. Theo đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Tại Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta xác định: Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, dẫn dắt và định hướng chiến lược; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng.
Như vậy, đến nay, dù Đảng ta sử dụng thuật ngữ thành phần kinh tế hay loại hình kinh tế, khu vực kinh tế thì đều nói tới các thành tố: nhà nước, tư nhân, nước ngoài, tập thể, hợp tác xã.
Khu vực kinh tế hỗn hợp là sự kết hợp giữa kinh tế nhà nước với một trong các thành phần/ hoặc với nhiều thành phần trong các thành phần kinh tế còn lại là kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân của người Việt Nam, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là khu vực kinh tế không thể hiện trong số liệu thống kê của Việt Nam. Trong các giai đoạn trước, chúng ta có đề cập đến khu vực kinh tế tư bản nhà nước, nhưng cũng không có số liệu thống kê về khu vực này. Từ Đại hội XI đến nay, chúng ta không dùng khái niệm kinh tế tư bản nhà nước trong các văn kiện Đại hội Đảng. Tại Đại hội XI, Đảng ta nêu rõ là Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển[1]. Trên thực tế, khu vực này ở Việt Nam có tồn tại nhưng chủ yếu là mô hình kết hợp giữa kinh tế nhà nước với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, và tỷ trọng trong nền kinh tế không lớn. Số liệu thống kê cho thấy, có khoảng 12-13% doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; còn lại là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và đều được xếp vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Hợp tác đầu tư giữa nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân trong nước trong thực hiện các dự án được khuyến khích phát triển nhưng trên thực tế còn rất nhiều hạn chế. Hợp tác đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP trong giai đoạn vừa qua chủ yếu là theo hình thức BT thông qua đổi đất lấy hạ tầng. Hợp tác công tư trong xây dựng và vận hành các dự án không nhiều. Quá trình xây dựng khung pháp lý cho vấn đề này đã bắt đầu từ Nghị định 108 /2009/NĐ-CP, Nghị định 15/2015/NĐ-CP, Nghị định 63/2018/NĐ-CP, đến Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020.
Ở các nước, xu hướng hợp tác giữa khu vực công và các hình thức khác nhau của khu vực tư (kết hợp kinh tế nhà nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tư nhân trong nước, kinh tế tập thể thậm chí cả với kinh tế của các cá nhân) rất phổ biến ở các quốc gia. Hợp tác công tư đã trở thành một phương thức hữu hiệu để thu hút vốn tư nhân kết hợp cùng với vốn nhà nước để xây dựng và vận hành các dự án trong nhiều lĩnh vực từ hạ tầng giao thông, năng lượng, khoa học công nghệ đến các lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế…
Ở Việt Nam, nhu cầu vốn cho phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, năng lượng, chuyển đổi số và các dự án đổi mới sáng tạo ở Việt Nam những năm tới đều đòi hỏi lượng vốn lớn gấp nhiều lần khả năng đáp ứng của ngân sách. Theo Bộ Tài chính, riêng hạ tầng giao thông và đô thị trong 5 năm tới đã cần khoảng 245 tỷ USD, một số vốn rất lớn so với năng lực của ngân sách. Vì thế, nếu chỉ dựa vào vốn Nhà nước hoặc vốn tư nhân riêng rẽ đề đầu tư, và không có cơ chế phối hợp thì rất khó có thể huy động đủ nguồn lực để thực hiện các dự án. Chính vì thế, hợp tác giữa nhà nước và các khu vực kinh tế khác cần được khuyến khích và thúc đẩy để có thể huy động tối đa nguồn lực từ các khu vực kinh tế khác ngoài kinh tế nhà nước, đồng thời bổ sung các điểm khuyết thiếu, phát huy năng lực và sức mạnh của tất các các khu vực kinh tế. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để thực hiện mục tiêu trở thành nước thu nhập cao, Việt Nam một mặt sử dụng các thể chế khuyến khích khu vực tư nhân, khu vực FDI, một mặt sẽ hỗ trợ thêm bằng các nguồn lực vật chất của nhà nước trong thực thi các dự án chiến lược quốc gia. Việt Nam cũng cần các biện pháp để thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao năng lực tài chính cho các dự án, lan tỏa công nghệ, thúc đẩy hấp thụ và chuyển giao công nghệ… Để hỗ trợ vốn cho các dự án, cho nhà nước và doanh nghiệp, cần thành lập các quỹ đầu tư đa sở hữu (đa dạng, nhiều cấp độ như cấp độ quốc gia, địa phương hay huy động vốn cộng đồng), cung cấp các loại vốn (thiên thần, mạo hiểm, đầu tư dài hạn…) cho các dự án hỗn hợp do cả nhà nước và tư nhân đầu tư phát triển. Để có đủ nguồn lực tài chính cũng như khai thác và phát huy thế mạnh, sức mạnh tổng hợp của các bên đối tác cho các dự án lớn trong lĩnh vực giao thông như đường sắt, sân bay, metro hay phát triển khoa học công nghệ mang tính chiến lược…cần hình thành các liên danh nhà nước và tư nhân.
Với ý nghĩa như vậy, cần thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế hỗn hợp với sự tham gia của nhà nước và khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Cần đưa vào nội dung văn kiện Đại hội Đảng quan điểm về khu vực kinh tế hỗn hợp như một trong các khu vực kinh tế song hành cùng khu vực nhà nước, tư nhân, nước ngoài, tập thể, hợp tác xã. Điều này góp phần khẳng định cam kết của Đảng trong việc thừa nhận vị trí, vai trò của khu vực kinh tế hỗn hợp đồng thời tạo căn cứ cho việc hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy khu vực này ở Việt Nam trong thời gian tới.
[1] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới Phần 2 (Đại hội X, XI, XII) , NXB CTQG Sự thật, Hà Nội, 2019, tr 504
