Trên những vách đá của núi Non Nước (Ninh Bình), những dòng chữ được khắc từ gần bảy thế kỷ trước vẫn lặng lẽ lưu giữ ký ức về lịch sử, văn hóa và tâm hồn người Việt qua nhiều thời đại. Ngày 5/11/2026, hệ thống ma nhai nơi đây chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sự kiện không chỉ khẳng định giá trị đặc sắc của một di sản địa phương, mà còn mở ra cơ hội để những trang sử khắc trên đá tiếp tục lan tỏa trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

Núi Non Nước hiện lưu giữ 43 văn bia trên vách đá (gọi là ma nhai – các văn bản được khắc trực tiếp lên bề mặt đá tự nhiên), có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Ảnh: dangcongsan.vn.

Núi Non Nước – nơi lịch sử được lưu dấu trên vách đá

Nằm ở vị trí giao hòa giữa sông Vân và sông Đáy, thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, núi Non Nước (còn gọi là Dục Thúy Sơn) từ lâu đã nổi tiếng với cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Ngọn núi mang dáng vẻ thanh tú, soi bóng xuống dòng nước, tạo nên không gian vừa khoáng đạt vừa cổ kính. Tên gọi Dục Thúy Sơn, nghĩa là núi chim trả tắm, được danh nhân Trương Hán Siêu đặt từ thời Trần. Qua nhiều thế kỷ, nơi đây trở thành nguồn cảm hứng cho các bậc quân vương, danh sĩ, thi nhân đến thưởng ngoạn và lưu lại những dấu ấn văn hóa.

Không chỉ là một danh thắng, núi Non Nước còn có vị trí quan trọng trong lịch sử quân sự của vùng đất Hoa Lư. Với địa thế án ngữ tại ngã ba sông, ngọn núi từng là đồn tiền tiêu bảo vệ kinh thành Hoa Lư vào thế kỷ X. Trải qua các triều đại, nơi đây tiếp tục được sử dụng vào những mục đích khác nhau, gắn với hoạt động quân sự và quản lý vùng đất. Những dấu ấn ấy cho thấy núi Non Nước không chỉ có giá trị về cảnh quan mà còn gắn bó mật thiết với những biến chuyển lịch sử của địa phương.

Trong không gian lịch sử và văn hóa ấy, hệ thống ma nhai – những văn bản được khắc trực tiếp lên vách đá tự nhiên – dần hình thành và lưu giữ qua nhiều thế hệ. Hiện nay, núi Non Nước còn 43 văn bản ma nhai, gồm 37 văn bản chữ Hán – Nôm và 6 văn bản chữ Quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Hai văn khắc sớm nhất được xác định có niên đại năm 1343, trong đó có Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký của Trương Hán Siêu; văn khắc muộn nhất có niên đại năm 1934. Nội dung các văn bản khá phong phú, từ thơ, bài ký, đề từ đến sắc chỉ, ngự bút, phản ánh dấu ấn của nhiều nhân vật và những hoạt động văn hóa, xã hội qua các thời kỳ.

Điều đặc biệt là hệ thống ma nhai không được tạo dựng trong một thời điểm hay bởi một cá nhân, mà là kết quả của quá trình tích lũy dấu ấn qua nhiều thế hệ. Mỗi văn khắc đều gắn với một con người, một sự kiện hoặc một câu chuyện của thời đại. Bởi vậy, núi Non Nước không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của một danh thắng mà còn giống như một cuốn sử được viết tiếp qua nhiều thế kỷ, nơi ký ức của người xưa vẫn hiện diện giữa không gian thiên nhiên hôm nay.

Ma nhai cổ trên núi Non Nước nằm ở nhiều vị trí khác nhau, có những bức lẩn khuất trong cây cối rậm rạp. Ảnh: vnexpress.net.

Những trang sử khắc trên đá – kho tàng ký ức lịch sử và văn hóa

Giá trị nổi bật của ma nhai Non Nước trước hết nằm ở những dấu ấn mà các thế hệ tiền nhân gửi lại qua văn tự. Trên cùng những vách đá, người đời sau có thể bắt gặp bút tích của các bậc quân vương, danh nhân, học giả và thi sĩ thuộc nhiều triều đại như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm... Mỗi người đến với Dục Thúy Sơn trong một hoàn cảnh, mang theo những cảm xúc và suy tư riêng, nhưng đều góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn chương, tư liệu của vùng đất này.

Tiêu biểu trong số đó là Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký của Trương Hán Siêu, được khắc năm 1343. Không chỉ là một văn bản có niên đại sớm, tác phẩm còn gắn với tên tuổi người đã góp phần phát hiện, tôn vinh vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn. Qua những áng thơ văn, bài ký và lời đề vịnh được lưu lại trên đá, có thể nhận thấy tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về quê hương, đất nước cũng như tâm hồn, khí phách của các thế hệ trí thức Việt Nam. Dục Thúy Sơn vì thế không chỉ là nguồn cảm hứng thi ca mà còn trở thành một không gian lưu giữ dấu ấn văn học qua nhiều thế kỷ.

Đáng chú ý, nội dung ma nhai không dừng lại ở những áng thơ văn ca ngợi cảnh sắc hay bày tỏ cảm xúc của các bậc tao nhân mặc khách. Nhiều văn khắc còn cung cấp những thông tin có giá trị về các sự kiện lịch sử, hoạt động văn hóa, xã hội, tôn giáo và tín ngưỡng. Từ việc xây dựng chùa tháp, hoạt động công đức đến những tư liệu liên quan đến y dược, chữa bệnh cứu người, chế độ ruộng đất thời trung đại, hệ thống văn khắc đã mở ra những lát cắt sinh động về đời sống xã hội trong quá khứ. Đặc biệt, một số tư liệu phản ánh vai trò của phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng, tôn giáo và xã hội, góp phần bổ sung những góc nhìn đáng chú ý về vị trí của người phụ nữ trong đời sống thời trung đại.

Nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử, những văn khắc này có ý nghĩa như những chứng tích tư liệu trực tiếp, giúp hậu thế nhận diện con người, sự kiện và các quan hệ xã hội trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Không chỉ bổ sung thông tin cho các nguồn sử liệu, thư tịch hiện có, chúng còn góp phần mở rộng hướng tiếp cận lịch sử từ đời sống của những cộng đồng và con người cụ thể. Qua đó, ma nhai Non Nước trở thành nguồn tư liệu có giá trị đối với nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn học, văn hóa học, ngôn ngữ học và nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng.

Một phương diện đáng chú ý khác là sự hiện diện của nhiều hệ thống văn tự trên cùng một không gian di sản. Từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ, các văn khắc phản ánh những chuyển biến trong đời sống ngôn ngữ và văn hóa của người Việt qua nhiều thế kỷ. Đây cũng là dấu ấn của quá trình tiếp nhận, giao lưu và biến đổi các giá trị văn hóa trong lịch sử. Đặt trong bối cảnh khu vực, những dấu tích ấy góp phần gợi mở mối liên hệ giữa văn hóa Việt Nam với không gian văn hóa châu Á, nơi chữ viết, văn học, tư tưởng và tôn giáo đã có những quá trình giao lưu, tương tác lâu dài.

Có thể nói, ma nhai Non Nước không chỉ lưu giữ ký ức về những nhân vật nổi tiếng hay những sự kiện đã qua, mà còn phản ánh nhiều phương diện của đời sống tinh thần và xã hội Việt Nam qua các thời đại. Từ những vần thơ vịnh cảnh đến những văn bản ghi chép hoạt động cộng đồng, mỗi dấu khắc đều góp thêm một mảnh ghép cho bức tranh lịch sử. Chính sự phong phú ấy đã làm nên giá trị đặc biệt của ma nhai: những trang sử không chỉ kể về quá khứ, mà còn giúp con người hôm nay hiểu sâu hơn về cội nguồn và hành trình phát triển văn hóa của dân tộc.

Dục Thúy lưu giữ dấu tích thơ văn của nhiều danh nhân qua các triều đại, trong đó có Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm... Ảnh: vnexpress.net

Giá trị nghệ thuật và tính độc bản – Thư pháp, điêu khắc và sự gắn kết với cảnh quan

Không chỉ có giá trị về nội dung lịch sử, văn hóa, ma nhai Non Nước còn mang dấu ấn nghệ thuật độc đáo, thể hiện qua sự kết hợp giữa thư pháp, ngôn từ và kỹ thuật chạm khắc đá. Mỗi văn bản được khắc trên vách núi không đơn thuần là một bản ghi chép, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật, nơi tài hoa của người viết và kỹ nghệ của người thợ khắc cùng được lưu giữ qua thời gian.

Về hình thức, hệ thống ma nhai có nhiều phong cách thư pháp khác nhau, tiêu biểu như Khải thư, Hành thư, kết hợp với các hoa văn, họa tiết trang trí tinh tế ở đường diềm. Những nét chữ, bố cục và cách trình bày trên bề mặt đá cho thấy trình độ thẩm mỹ cũng như kỹ thuật điêu khắc truyền thống của các nghệ nhân Việt Nam. Để tạo nên một văn bản hoàn chỉnh trên chất liệu đá tự nhiên, người thực hiện không chỉ cần sự am hiểu về chữ viết mà còn phải có kỹ năng xử lý bề mặt, căn chỉnh bố cục và chạm khắc chính xác.

Điều làm nên nét riêng của ma nhai Non Nước còn nằm ở sự gắn kết không thể tách rời giữa văn bản và không gian tồn tại. Những dòng chữ không nằm trong khuôn khổ của một trang sách hay tấm bia có thể di chuyển, mà hiện diện trực tiếp trên vách núi, giữa cảnh quan sông nước và thiên nhiên Dục Thúy Sơn. Chính sự gắn bó ấy tạo nên tính độc bản của di sản: mỗi văn khắc vừa là một tư liệu lịch sử, vừa là một dấu tích nghệ thuật gắn với địa điểm và hoàn cảnh hình thành cụ thể. Những bản sao hay hình ảnh số hóa có thể giúp lưu giữ, phổ biến nội dung, nhưng không thể thay thế hoàn toàn giá trị nguyên gốc của các văn tự trên đá. Bởi vậy, ma nhai Non Nước là sự kết hợp đặc biệt giữa di sản tư liệu, di sản nghệ thuật và không gian văn hóa cảnh quan, tạo nên giá trị riêng có trong kho tàng di sản Việt Nam.

Tầm vóc khu vực và trách nhiệm bảo tồn – Ý nghĩa ghi danh UNESCO và hướng phát huy di sản

Ngày 5/11/2026, tại Kỳ họp lần thứ 11 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (MOWCAP) tổ chức tại Jakarta (Indonesia), hồ sơ “Ma nhai trên núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình” chính thức được thông qua và ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO. Hồ sơ đáp ứng các tiêu chí về tính xác thực, tính toàn vẹn, tính độc bản, tầm quan trọng và ý nghĩa khu vực, đồng thời có kế hoạch bảo quản, quản lý và tạo điều kiện tiếp cận di sản khả thi. Đây là sự ghi nhận có ý nghĩa đối với những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật được lưu giữ qua nhiều thế kỷ trên vách đá Non Nước.

Việc ghi danh không chỉ khẳng định giá trị của một di sản tư liệu tiêu biểu của Ninh Bình, mà còn góp phần làm rõ những đóng góp của Việt Nam vào kho tàng ký ức chung của khu vực. Qua hệ thống ma nhai, các nhà nghiên cứu có thêm nguồn tư liệu để tìm hiểu lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Đông Á, mối quan hệ giữa các dòng tư tưởng, tôn giáo cũng như những biến đổi trong đời sống xã hội. Đáng chú ý, những tư liệu phản ánh sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội, tôn giáo từ thế kỷ XIV cũng đem đến những góc nhìn có giá trị về lịch sử giới trong khu vực. Sự ghi danh vì thế không chỉ là niềm tự hào của địa phương, mà còn mở rộng cơ hội để những giá trị văn hóa Việt Nam được nghiên cứu, trao đổi và giới thiệu trong không gian học thuật quốc tế.

Bên cạnh hệ thống văn bia chữ Hán - Nôm, Dục Thúy còn lưu giữ 6 văn bia chữ Quốc ngữ, cho thấy sự tiếp nối của truyền thống khắc chữ trên đá đến thời cận đại. Ảnh: vnexpress.net

Tuy nhiên, danh hiệu UNESCO cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản. Trước hết, cần tiếp tục bảo vệ nguyên trạng các văn khắc trước tác động của thời tiết, độ ẩm, sự phong hóa tự nhiên và những ảnh hưởng từ hoạt động tham quan. Việc nghiên cứu, phiên dịch, chú giải và hệ thống hóa các văn bản cần được đẩy mạnh, gắn với ứng dụng công nghệ số để xây dựng cơ sở dữ liệu, lưu giữ hình ảnh và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, tiếp cận di sản. Bên cạnh đó, cần chú trọng giới thiệu những câu chuyện lịch sử, văn hóa ẩn sau từng văn khắc thông qua hoạt động giáo dục, trưng bày và diễn giải di sản, giúp công chúng, nhất là thế hệ trẻ, hiểu và trân trọng hơn những giá trị mà người xưa để lại.

Đặc biệt, việc phát huy giá trị ma nhai cần được đặt trong mối liên hệ với tổng thể không gian văn hóa, lịch sử và cảnh quan núi Non Nước, đồng thời kết nối với hệ thống di sản phong phú của Ninh Bình. Phát triển du lịch văn hóa cần đi đôi với bảo vệ tính nguyên gốc, hạn chế những hoạt động khai thác thiếu kiểm soát có thể ảnh hưởng đến di sản. Cộng đồng địa phương cũng cần được khuyến khích tham gia vào quá trình gìn giữ, giới thiệu và lan tỏa những giá trị của di sản, bởi chính sự gắn bó của cộng đồng là một yếu tố quan trọng bảo đảm sức sống lâu dài cho di sản.

Từ những dòng chữ khắc trên vách đá gần bảy thế kỷ trước đến danh hiệu Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ma nhai Non Nước đã vượt qua giới hạn của một di tích địa phương để trở thành một phần ký ức chung của khu vực. Giá trị ấy không chỉ nằm trong những văn bản cổ, mà còn hiện diện ở sự giao hòa giữa lịch sử, nghệ thuật và cảnh quan. Gìn giữ, nghiên cứu và phát huy di sản chính là cách để những trang sử trên đá tiếp tục được đọc, được hiểu và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Tài liệu tham khảo

1. Diệp Anh, “Việt Nam có thêm 02 Di sản tư liệu được ghi vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, Báo Điện tử Chính phủ (05/11/2026).

2. Phan Hiếu, “Ma nhai trên núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình chính thức được ghi danh là Di sản Tư liệu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”, Báo Ninh Bình (05/11/2026).

3. Bộ Ngoại giao, “Ma nhai núi Non Nước và Văn bia Phố Hiến được ghi danh là di sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Ngoại giao (05/11/2026).

4. Diệp Ninh, “13 di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh (tính đến tháng 11/2026)”, Thông tấn xã Việt Nam (08/11/2026).