Đóng góp vào thành công to lớn và toàn diện của công cuộc đổi mới 40 năm qua có đường lối ngoại giao với bản lĩnh, bản sắc “Tre Việt Nam”, đặc biệt tình hình thế giới phức tạp hiện nay đòi hỏi đường lối đối ngoại của Việt Nam cần tiếp nối và phát huy bản lĩnh, bản sắc của đường lối đối ngoại này

Trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới những năm gần đây có nhiều biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, đường lối đối ngoại của Việt Nam trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Bên cạnh những đánh giá tích cực, khách quan từ các học giả và chính khách uy tín, trên một số diễn đàn truyền thông nước ngoài và mạng xã hội vẫn lạc lõng những luận điệu xuyên tạc. Họ cố tình dán nhãn, quy chụp chính sách ngoại giao của Việt Nam là thực dụng, “đu dây”, “bắt cá hai tay” hay “gió chiều nào che chiều ấy” giữa các cường quốc.

Đây là những luận điệu hoàn toàn sai lệch, phiến diện, cố tình xuyên tạc bản chất cốt lõi của nền ngoại giao Việt Nam. Thực tế lịch sử và thành tựu đối ngoại những năm qua đã chứng minh: Việt Nam không “đu dây” để cầu an, mà đang vững vàng thực thi một trường phái ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa mang đậm bản sắc “Tre Việt Nam”.

Bản chất của luận điệu “đu dây” và sự ngụy biện về mặt lý luận

Cụm từ “ngoại giao đu dây” (swing diplomacy) vốn được một số học giả phương Tây dùng để chỉ trạng thái một quốc gia quy mô trung bình hoặc nhỏ cố gắng không chọn bên, liên tục thay đổi thái độ hoặc mặc cả lợi ích một cách cơ hội giữa các siêu cường để trục lợi ngắn hạn. Khi áp đặt khái niệm này vào Việt Nam, các thế lực thù địch và những nhà phân tích thiếu thiện chí thường dựa vào các luận cứ ngụy biện sau:

Sự suy diễn từ các chuyến thăm cấp cao, họ lập luận rằng việc Việt Nam đón tiếp lãnh đạo các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga trong thời gian ngắn, hoặc việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với hàng loạt quốc gia là biểu hiện của sự cân bằng quyền lực một cách thụ động.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, tháng 9/2024  (Ảnh tư liệu TTXVN)

Xuyên tạc chính sách quốc phòng "4 không": Họ cho rằng chính sách không tham gia liên minh quân sự là biểu hiện của sự lập lờ, thiếu dứt khoát, không dám thể hiện lập trường rõ ràng trước các vấn đề quốc tế.

Đánh tráo khái niệm giữa “độc lập” và “cơ hội”: Họ cố tình cào bằng nguyên tắc ứng xử hài hòa, nhân văn, thượng tôn pháp luật quốc tế của Việt Nam với thái độ thực dụng chính trị.

Sự thật là gì? Bản chất của ngoại giao Việt Nam chưa bao giờ là sự chao đảo, nghiêng ngả theo dòng chiến sự hay áp lực từ bên ngoài. “Đu dây” là hành động của một kẻ không có chỗ đứng cố định, luôn phải nhìn sắc mặt kẻ khác và có thể ngã bất cứ lúc nào khi sợi dây dịch chuyển. Ngược lại, ngoại giao Việt Nam có một bộ rễ vô cùng vững chắc: Lợi ích quốc gia - dân tộc và độc lập, tự chủ.

Trường phái ngoại giao “Tre Việt Nam”: Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển

Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc (tháng 12/2021) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 (tháng 12/2023), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát hóa một cách sâu sắc về trường phái đối ngoại và ngoại giao mang đậm bản sắc “Tre Việt Nam”: “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam”.

Gốc vững dựa trên cơ sở giữ vững nguyên tắc đặt lên hàng đầu là lợi ích quốc gia dân tô; độc lập tự chủ, quyền tự quyết và chủ quyền dân tộc. Thân chắc là sách lược linh hoạt, tự lực tự cường, kiên trì chính sách quốc phòng “4 không”. Cành uyển chuyển biểu hiện ở đa phương hóa, ững xử hài hòa, vì hòa bình, tiến bộ và phát triển

Gốc vững: Lợi ích quốc gia – dân tộc, độc lập, tự chủ. Cái “gốc” của cây tre Việt Nam chính là nguyên tắc tối thượng: Kiên định độc lập, tự chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Mọi quyết sách đối ngoại đều lấy lợi ích của quốc gia, của nhân dân làm thước đo cao nhất. Cái gốc này được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, không một thế lực nào có thể lay chuyển hay mua chuộc.

Thân chắc: Bản lĩnh tư cường và đường lối đúng đắn. “Thân chắc” là sức mạnh tổng hợp của đất nước, là sự kiên định về đường lối. Việt Nam tự cường về kinh tế, ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng. Sự “chắc chắn” này thể hiện ở việc Việt Nam không bao giờ thỏa hiệp về mặt nguyên tắc, không dùng chủ quyền để đổi lấy những lợi ích kinh tế hay sự bảo hộ an ninh nhất thời.

Cành uyển chuyển: Sách lược linh hoạt, khôn khéo. “Cành uyển chuyển” chính là nghệ thuật “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong một thế giới đa cực, đa trung tâm và đầy biến động, Việt Nam không chọn cách đối đầu cực đoan, không đóng băng quan hệ, mà chọn cách đối thoại, tìm kiếm điểm đồng, giảm thiểu bất đồng, gia tăng hợp tác, chuyển hóa “đối đầu” thành “đối thoại”, “đối tác”.

Học giả Bilahari Kausikan, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Singapore, từng nhận định rằng: Ngoại giao Việt Nam không phải là sự trung lập thụ động, mà là một sự định vị chiến lược cực kỳ chủ động và sắc sảo, xuất phát từ tư duy thực tế và hiểu rõ vị thế của mình.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chứng kiến trưng bày các văn kiện hợp tác giữa hai nước, tháng 4/2025 (Ảnh tư liệu: Việt Trung)

Thực tiễn sinh động bác bỏ luận điệu “đu dây”

Những thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là minh chứng đanh thép nhất, bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc.

Vị thế đối ngoại mới và mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam. Trong bối cảnh cục diện thế giới biến động phức tạp và đa cực hóa ngày càng sâu sắc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tựu mang tính lịch sử. Minh chứng rõ nét nhất chính là việc định hình và củng cố vững chắc khuôn khổ quan hệ ở cấp độ cao nhất – Đối tác chiến lược toàn diện – với các cường quốc và trung tâm chính trị - kinh tế hàng đầu thế giới. Đây không chỉ là sự thừa nhận đối với vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao của Việt Nam, mà còn phản ánh tư duy ngoại giao linh hoạt, cân bằng chiến lược và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.

Trước hết, trong mối quan hệ với Trung Quốc, quốc gia láng giềng có chung đường biên giới, Việt Nam đã xác lập định vị cao nhất là Đối tác chiến lược toàn diện, Cộng đồng chia sẻ tương lai. Mối quan hệ này mang tính đặc thù cao, kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại. Đặc trưng hợp tác giữa hai nước vừa mang tính toàn diện về kinh tế, vừa duy trì tinh thần láng giềng hữu nghị, đồng thời thể hiện sự chín muồi trong việc kiểm soát, xử lý các bất đồng một cách hòa bình, ổn định.

Song song với đó, mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Liên bang Nga tiếp tục duy trì mức độ tin cậy chính trị sâu sắc. Bản chất của mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga dựa trên nền tảng lịch sử vững chắc và sự bổ trợ lẫn nhau. Hai quốc gia không ngừng thắt chặt hợp tác trong các lĩnh vực mang tính trụ cột, chiến lược bền vững như năng lượng, quốc phòng - an ninh và khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.

Bước đi mang tính đột phá trong tư duy đối ngoại chính là việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ. Việc chuyển hóa từ cựu thù thành đối tác chiến lược hàng đầu thể hiện tinh thần "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai". Trong giai đoạn hiện nay, hợp tác Việt - Mỹ tập trung mạnh mẽ vào các động lực phát triển kinh tế, thúc đẩy các ngành công nghệ cao, chuỗi cung ứng bán dẫn, bên cạnh việc kiên trì thực hiện trách nhiệm nhân văn thông qua công tác khắc phục hậu quả chiến tranh.

Việc thiết lập mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đồng loạt với các cường quốc khu vực bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc đã hoàn thiện mạng lưới hợp tác đa tầng nấc của Việt Nam. Trọng tâm cốt lõi của mối quan hệ với nhóm quốc gia này chuyển dịch một cách sâu sắc và thực chất trên nhiều khía cạnh: từ trụ cột kinh tế - thương mại, nguồn vốn ODA hỗ trợ phát triển hạ tầng, hợp tác lao động quốc tế, cho đến phối hợp an ninh hàng hải nhằm duy trì trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế và đẩy mạnh giao lưu nhân dân.

Đại hội XIV khẳng định 2 nguyên tắc đối ngoại: Vì lợi ích quốc gia dân tộc, tran cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong hội nhập quốc tế, chú trọng giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Đối cới cá thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước.

Tóm lại, mạng lưới quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện rộng khắp và thực chất mà Việt Nam xây dựng được chính là tấm lá chắn vững chắc, tạo lập cục diện đối ngoại rộng mở, đa chiều. Bằng cách định vị khôn khéo mối quan hệ với các nước lớn, Việt Nam không chỉ bảo đảm được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế bền vững mà còn tiếp tục khẳng định vai trò là một thành viên có trách nhiệm, một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu và cấu trúc an ninh khu vực.

Nếu Việt Nam “đu dây” hay chọn bên, Việt Nam không bao giờ có thể xây dựng được một hệ thống đối tác mang tính chiến lược, tin cậy và cân bằng như vậy. Các nước lớn chấp nhận và tôn trọng thể chế chính trị, độc lập chủ quyền của Việt Nam vì họ thấy được sự chân thành, nhất quán và đáng tin cậy của Hà Nội.

Chính sách quốc phòng “4 không” là minh chứng của sự tự chủ. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam đã khẳng định rõ ràng chính sách “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; Không liên kết với nước này để chống nước kia; Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách “4 không” hoàn toàn không phải là thái độ tránh né hay "đu dây", mà là một tuyên ngôn hòa bình đầy bản lĩnh; khẳng định Việt Nam tự chủ về mặt an ninh, không cần dựa dẫm vào cái ô an ninh của bất kỳ ai hoặc tự biến mình thành quân cờ trong cuộc chơi của các nước lớn.

Lập trường kiên định, thượng tôn pháp luật trên các diễn đàn quốc tế. Khi nổ ra các cuộc xung đột quốc tế, như cuộc xung đột Nga - Ukraine hay tình hình Trung Đông, những kẻ xuyên tạc thường rêu rao Việt Nam "né tránh" khi bỏ phiếu tại Liên Hợp quốc. Tuy nhiên, phát biểu của đại diện Việt Nam tại các phiên họp luôn rõ ràng, nhất quán: Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, chọn lẽ phải và luật pháp quốc tế. Việt Nam kêu gọi chấm dứt xung đột, tôn trọng Hiến chương Liên Hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh thảm khốc, Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình và sự tàn phá của xung đột. Sự lựa chọn của Việt Nam là sự lựa chọn có tính nguyên tắc, không vì làm hài lòng một bên nào mà bóp méo công lý quốc tế.

Nền ngoại giao Việt Nam thành công và nhận được sự tôn trọng. Sở dĩ đường lối đối ngoại của Việt Nam đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đưa vị thế đất nước lên cao chưa từng có, là nhờ vào những giá trị nội sinh cốt lõi:

Một là, sự nhất quán mang tính chiến lược: Chính sách đối ngoại của Việt Nam được hoạch định một cách khoa học, xuyên suốt qua các kỳ Đại hội Đảng (từ Đổi mới năm 1986 đến Đại hội XIII, XIV), không thay đổi theo nhiệm kỳ chính trị hay sự thay đổi nhân sự như ở một số quốc gia phương Tây. Sự nhất quán này tạo nên uy tín và sự dự báo – một tài sản vô giá trong quan hệ quốc tế.

Hai là, Sự chân thành và trách nhiệm: Việt Nam không chỉ nhận mà còn cống hiến tích cực cho cộng đồng quốc tế. Việc Việt Nam tham gia tích cực vào lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc (UN peacekeeping) tại Nam Sudan, Trung Phi, hay việc ứng phó với biến đổi khí hậu là minh chứng rõ ràng của một thành viên có trách nhiệm.

Ba là: Thấu hiểu quy luật quan hệ quốc tế: Việt Nam hiểu rằng, trong thế giới ngày nay, lợi ích của các quốc gia đan xen lẫn nhau. Thay vì chọn cách đối đầu loại trừ (zero-sum game), Việt Nam chọn cách tiếp cận cùng thắng (win win), cùng phát triển, tìm kiếm "giao điểm lợi ích" với tất cả các đối tác.

Nhìn lại chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bài học lớn nhất luôn là độc lập, tự chủ và tự cường. Đường lối đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không phải là sự “đu dây” cơ hội, thực dụng, mà là sự kế thừa xuất sắc truyền thống ngoại giao hòa hiếu của cha ông, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Sự vững vàng, độc lập, tự chủ đó chính là chìa khóa giúp Việt Nam giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Mọi sự xuyên tạc, quy chụp cho rằng Việt Nam "đu dây" chỉ là những cái nhìn thiển cận, phiến diện và hoàn toàn thất bại trước thực tiễn sinh động của một Việt Nam bản lĩnh, tự tin và tự chủ.