Hơn 80 năm, Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng của Bác vẫn còn nguyên giá trị và nóng hổi tính thời sự, vẫn soi sáng sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa có tâm, vừa có tầm”, thực hiện đổi mới quản trị quốc gia, gắn với phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới và cơ chế khuyến khích – bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026

Tháng 9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, còn non trẻ nhưng phải đối diện cùng lúc ba thứ “giặc”: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, đăng trên báo Cứu quốc, số 69.

Bức thư ngắn gọn nhưng chứa đựng tư tưởng lớn, vừa khẳng định Chính phủ là “công bộc của dân”, vừa chỉ ra sáu căn bệnh cán bộ có thể mắc phải.

Câu mở đầu của Người đã trở thành chân lý bất biến: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường”[1]. Đây không chỉ là lời nhắc nhở trong buổi đầu xây dựng chính quyền mới, mà còn là kim chỉ nam cho mọi thời kỳ cách mạng, đặt nền móng cho tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tư tưởng “công bộc của dân” - bước ngoặt triệt để

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[2]

Tư tưởng này mang tính cách mạng triệt để, xóa bỏ quan niệm “quan cách mạng” hay “phụ mẫu chi dân” vốn tồn tại trong chế độ phong kiến. Chính phủ mới phải là người phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm thước đo cho mọi hành động.

Người nhấn mạnh: “Việc gì lợi cho dân, phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh.” Đây chính là nền tảng đạo đức công vụ, chuẩn mực để xây dựng một chính phủ kiến tạo, một nền hành chính phục vụ, chứ không cai trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác cán bộ sau khi cách mạng thành công, Đảng trở thành Đảng cầm quyền (Ảnh tư liệu)

Sáu “căn bệnh” cán bộ cần tránh - lời cảnh tỉnh vượt thời gian

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra sáu thói hư tật xấu mà cán bộ dễ mắc phải:

Trái phép: bắt bớ, tịch thu tài sản vì tư thù cá nhân, dẫn đến oan sai. Người nói rõ về thói hư tật xấu này “... có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán”[3]. Nghĩa là, việc bắt giữ và tịch thu tài sản diễn ra không đúng. Có người vốn không phạm tội, hoặc mức độ vi phạm chưa đến mức phải xử lý nghiêm khắc, nhưng vì những hiềm khích cá nhân từ trước mà bị quy kết, dẫn đến oan sai. Mà đã oan thì tất yếu sẽ sinh ra oán hận. Đây chính là biểu hiện của tâm lý tiểu nông, khi một số cá nhân lợi dụng quyền lực trong tay để trả thù riêng, thay vì hành xử công tâm và vì lợi ích chung.

Cậy thế: dựa vào chức quyền để ngang tàng, coi thường dư luận, không quan tâm đến dân. Bác đã thẳng thắn chỉ rõ thói xấu này: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”[4].

Hủ hóa: tham ô, tham nhũng, “...Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”. Người lấy ví dụ cụ thể: “ Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô các cậu uỷ viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”[5].

Tư túng: kéo bè, kéo cánh, bổ nhiệm theo quan hệ thân quen mà không dựa vào tài năng và đạo đức… của cán bộ. Bác chỉ rõ: “Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài nǎng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”. Nghĩa là, việc sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ có khi không dựa trên tiêu chuẩn về tài năng và đạo đức như quy định, mà lại xuất phát từ cảm tính, quan hệ riêng tư hay sự thân thiết cá nhân. Từ đó hình thành những nhóm lợi ích, vây cánh, bè phái, làm méo mó nguyên tắc tổ chức và gây tổn hại cho sự trong sạch của bộ máy. Đây không chỉ là biểu hiện của tư duy tiểu nông, mà còn là nguy cơ làm suy yếu niềm tin của quần chúng đối với công tác cán bộ, vốn được xem là “then chốt của then chốt” trong sự nghiệp cách mạng.

Chia rẽ: gây mất đoàn kết nội bộ, “Bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hoà thuận với nhau”[6]. Nghĩa là, sự thiên lệch trong quản lý, làm mất đi tính công bằng và đoàn kết. Khi không biết dung hòa lợi ích, tạo sự nhường nhịn giữa các tầng lớp, thì mâu thuẫn dễ bị khoét sâu, dẫn đến chia rẽ nội bộ, suy yếu sức mạnh tập thể và cản trở tiến trình phát triển chung.

Kiêu ngạo: coi mình như “thần thánh”, khinh dân, phô trương. Bác vạch rõ tật xấu này: “Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”[7]. Nghĩa là, một số cán bộ khi bước vào cơ quan Chính phủ lại ngộ nhận rằng mình đã trở thành “thần thánh”, từ đó coi thường dân chúng, nói năng phô trương, hành xử với dáng vẻ “quan cách mạng”. Thái độ kiêu ngạo ấy không chỉ làm mất đi sự gần gũi, mà còn bào mòn niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Khi niềm tin bị tổn hại, uy tín của Chính phủ cũng bị lung lay, kéo theo hệ quả nghiêm trọng đối với sự ổn định và sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Người cảnh báo: nếu không sửa chữa, những căn bệnh này sẽ làm suy yếu Chính phủ, mất lòng dân và cuối cùng là thất bại của cách mạng.

Hơn 80 năm sau, lời cảnh tỉnh của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự, soi sáng cho công cuộc xây dựng chính phủ kiến tạo – của dân, do dân và vì dân; đội ngũ cán bộ liêm chính, bản lĩnh, sáng tạo; đổi mới quản trị quốc gia.

nghi quyet 24-nq tw bao ve nhung nguoi dan than vi loi ich chung hinh anh 2

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng ngày 3/9/2026

Bài học từ bức thư của Bác cho hôm nay và mai sau

Từ bức thư của Bác soi vào thực tiễn xây dựng chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, cho thấy một số bài học rất quan trọng, cần thực hiện ngay:

Một là, cần khẳng định rõ vị trí và vai trò nền tảng của nhân dân trong toàn bộ đời sống chính trị – xã hội. Nhân dân vừa là đối tượng quản lý của Nhà nước, vừa là chủ thể trực tiếp thụ hưởng các chính sách của Đảng và Chính phủ. Chính vì vậy, mọi cơ quan công quyền, cũng như toàn bộ hệ thống chính trị, phải đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, chăm lo để họ được hưởng đầy đủ và công bằng những quyền lợi chính đáng. Chỉ khi gắn bó mật thiết với nhân dân, bộ máy Nhà nước mới có thể củng cố niềm tin, tạo dựng sự đồng thuận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết.

Chính quyền địa phương hai cấp, đặc biệt là cấp xã – cấp trực tiếp, phải hết sức chú ý: Mọi chính sách, mọi quyết định đều phải đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Chính quyền và cả hệ thống chính trị phải chăm lo để nhân dân thụ hưởng nhiều nhất quyền lợi chính đáng. Đây là sự tiếp nối trực tiếp tư tưởng “công bộc của dân”.

Hai là, cần nhận thức đầy đủ rằng Nhà nước và hệ thống chính trị không phải là “phụ mẫu chi dân” mà là những người phục vụ nhân dân – đúng nghĩa “công bộc của dân”. Vai trò ấy đòi hỏi cán bộ, công chức phải đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết, hành xử khiêm nhường, tận tụy, thay vì mang tư tưởng áp đặt, “đè đầu cưỡi cổ” như trong chế độ thực dân, phong kiến. Chỉ khi giữ vững tinh thần phục vụ, Nhà nước mới có thể củng cố niềm tin, tạo dựng uy tín và khẳng định tính chính danh trong mắt nhân dân.

Nhà nước phải thực hiện tinh gọn bộ máy – phục vụ hiệu quả. Chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính nhỏ, dân số ít nhằm: Tăng cường nguồn lực quản lý tập trung; giảm chồng chéo, tiết kiệm ngân sách; nâng cao chất lượng cán bộ, tránh tình trạng “tư túng” ở những đơn vị quá nhỏ. Điều này phản ánh đúng tinh thần cả Chủ tịch Hồ Chí Minh: bộ máy phải phục vụ lợi ích chung, đặc biệt là vì dân.

Chính quyền gần dân, gắn bó với dân. Việc xây dựng chính quyền địa phương hai cấp giúp: Rút ngắn tầng nấc trung gian, giảm thủ tục hành chính; tăng tính chủ động của cấp xã, gắn trực tiếp với dân; đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất từ tỉnh xuống cơ sở. Đây là cách để bộ máy gần dân hơn, giảm khoảng cách giữa chính quyền và nhân dân nhằm phục vụ nhân dân nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Ba là, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi, sửa mình theo các thói hư tật xấu có thể mắc phải mà Bác đã chỉ ra. Trong bối cảnh mới, các địa phương, cơ quan mới sáp nhập và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, mỗi cán bộ, đảng viên (đặc biệt là cấp xã) phải đối chiếu với sáu căn bệnh mà Bác đã nêu. Nếu mắc phải, phải sửa ngay; nếu chưa mắc, phải phòng tránh. Đây là cơ chế tự kiểm soát, tự rèn luyện để giữ vững đạo đức công vụ, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.

Bốn là, các cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra Nhà nước phải vào cuộc để soi lại đội ngũ cán bộ ở những địa phương, cơ quan mới sáp nhập (nhất là cấp xã), xem có mắc phải những lỗi mà Bác đã chỉ ra hay không. Nếu có phải kịp thời uốn nắn, nhắc nhở thậm chí kỷ luật hoặc đề nghị tuy tố...,xử lý nghiêm sai phạm. Đây là cách giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Nhà nước.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa có tâm, vừa có tầm”, gắn với phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới và cơ chế khuyến khích – bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những “căn bệnh” cần tránh để giữ trong sạch, còn Nghị quyết số 24 - NQ/TW đưa ra cơ chế khuyến khích hành động tích cực. Một bên là phòng ngừa, răn đe; một bên là khuyến khích, bảo vệ. Cả hai bổ sung cho nhau, cùng hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có đạo đức, vừa có bản lĩnh, vừa có trí tuệ. Bức thư năm 1945 đặt nền móng đạo đức công vụ, còn Nghị quyết số 24 - NQ/TW phát triển thành cơ chế chính trị – pháp lý để bảo vệ cán bộ dám hành động. Cả hai đều hướng tới mục tiêu chung: xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có tâm, vừa có tầm, đủ bản lĩnh đưa đất nước phát triển thịnh vượng.

Như vậy, từ bức thư lịch sử năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày nay, một mạch tư tưởng xuyên suốt đã được khẳng định: cán bộ phải giữ sự trong sạch, liêm chính, gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng thời có bản lĩnh, sáng tạo và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, lời dặn ấy vẫn là kim chỉ nam để xây dựng một nền chính trị vững mạnh, một đội ngũ cán bộ vừa có tâm, vừa có tầm, đủ sức đưa Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng, hùng cường. Đây chính là nền tảng để đổi mới quản trị quốc gia, kiến tạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân – một Nhà nước mà uy tín được nuôi dưỡng từ niềm tin của nhân dân và sức mạnh bắt nguồn từ sự đồng thuận xã hội.

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 64.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.4, tr. 65.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.4, tr. 65.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.4, tr. 65.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.4, tr. 65.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.4, tr. 66.