Chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ

Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân hai nước gắn bó mật thiết, đoàn kết giúp đỡ nhau. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi (1975), quan hệ hai nước dần xấu đi.

Đầu năm 1979, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, mở ra công cuộc hồi sinh đất nước, chính quyền Trung Quốc cùng một số nước khác ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia.

Mục đích của họ là muốn chống phá cách mạng Việt Nam, hậu thuẫn các thế lực phản động để mưu toan áp đặt lợi ích dân tộc của họ trên bán đảo Đông Dương.

Trong khi đó, bối cảnh quốc tế lúc này đang có những diễn biến rất phức tạp khi mâu thuẫn Liên Xô -Trung Quốc gia tăng căng thẳng; quan hệ Trung Quốc - Mỹ tiếp tục có sự cải thiện và cả hai đều coi Liên Xô là “kẻ thù số 1”.

Sau nhiều lần gây ra các vụ khiêu khích quân sự quy mô nhỏ, bất chấp nỗ lực giải quyết căng thẳng bằng con đường hòa bình của Việt Nam, từ 3h30 ngày 17/02/1979, Trung Quốc mở cuộc tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1.400km. Sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn (hơn 600 nghìn quân) tiến công sang lãnh thổ Việt Nam. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai; hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Giang.

Ngày 18/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc, trong đó kêu gọi toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, triệu người như một, nhất tề đứng dậy quyết chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Một đơn vị bộ đội trên dường phố Hà Nội năm 1979 (Ảnh tư liệu)

Trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, sử dụng lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 chiến đấu và điều động một bộ phận lực lượng của các quân khu, các tỉnh phía sau lên tăng cường.

Điển hình là Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo và điều động Sư đoàn Bộ binh 327 (Quân khu 3), Sư đoàn 337 (Quân khu 4) cơ động lên Quân khu 1; điều động 4 tiểu đoàn bộ đội địa phương thành phố Hà Nội lên mặt trận Lạng Sơn, 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương Hải Phòng đến mặt trận Quảng Ninh và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Hà Sơn Bình lên mặt trận Hoàng Liên Sơn. Ngoài ra, đầu tháng 3/1979, Quân đoàn 2 nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng từ Campuchia về tập kết ở khu vực phía Bắc Hà Nội bí mật, an toàn, sẵn sàng bảo vệ biên giới phía Bắc.

Nhằm ngăn chặn sự mở rộng tiến công xâm lược của Trung Quốc, ngày 05/3/1979, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên lực lượng để bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, hàng triệu người ở hầu khắp các tỉnh, thành phố đã tình nguyện đăng ký gia nhập lực lượng vũ trang, ra mặt trận, lên tuyến trước xây dựng trận địa chống quân thù. Nhiều đoàn viên, thanh niên ở Hà Nội và các địa phương khác đã viết đơn tình nguyện lên biên giới để được trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Chấp hành Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, trên hai hướng Quân khu 1 và Quân khu 2, toàn quân và toàn dân đã tích cực chuẩn bị, tăng cường tổ chức lực lượng, củng cố và xây dựng thêm một số đơn vị, sẵn sàng chiến đấu, tập trung cho phản công đánh bật quân Trung Quốc ra khỏi biên giới Tổ quốc. Trước những tổn thất lớn về lực lượng và bị dư luận quốc tế phản đối mạnh mẽ, ngày 05/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Với truyền thống nhân nghĩa và lòng mong muốn củng cố hòa bình, hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để Trung Quốc được yên ổn rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh về nước. Đến ngày 18/3/1979, trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, quân Trung Quốc đã rút khỏi đất Việt Nam.

Quân và dân Thủ đô với cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

Khi cuộc chiến nổ ra, ở hậu phương Thủ đô Hà Nội, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, chi viện chiến trường để bảo vệ vẹn toàn biên giới, lãnh thổ Tổ quốc cũng lên cao hơn bao giờ hết. Mỗi ngày, Ban Chỉ huy quân sự các quận, huyện, thị xã của Thủ đô Hà Nội và địa bàn tỉnh Hà Tây (lúc này nằm trong tỉnh Hà Sơn Bình) nhận được hàng trăm lá đơn xung phong tình nguyện lên đường chiến đấu, trong đó có những lá đơn viết bằng máu.

Ngoài ra, thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân khu Thủ đô (Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay) đã xác định nhiệm vụ: Phải khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng, kiện toàn hệ thống tổ chức, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tốt công tác dân vận, tích cực, chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, xây dựng hệ thống công trình tuyến phòng thủ của Thủ đô.

Bộ đội trên một xe quân sự chi viện biên giới phía Bắc (Ảnh tư liệu)

Cơ quan quân sự các cấp được kiện toàn, củng cố và cấp thêm vũ khí cho các trận địa hỏa lực đánh địch đổ bộ bằng đường không, duy trì chế độ thường xuyên trực sẵn sàng chiến đấu, kiểm tra báo động thường xuyên.

Bên cạnh lực lượng thường trực, lực lượng dân quân tự vệ được tăng cường từ 12% lên 14,5% so với dân số. Dân quân một số xã trọng điểm như: Đường Lâm (Sơn Tây), Yên Sở (Hoài Đức), Thanh Cao (Thanh Oai), Tiên Phương (Chương Mỹ)… thành lập quy mô tiểu đoàn. Tự vệ Nhà máy Cơ khí Bông Sen (Hà Đông), Công ty Xây dựng đường 6 tổ chức quy mô trung đoàn.

Lực lượng dân quân cơ động ở mỗi xã thành lập một đại đội và mỗi trung đoàn tự vệ có một tiểu đoàn cơ động. Các quận, huyện, thị xã thành lập tiểu đoàn dự nhiệm. Mọi công dân nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện đều gia nhập dân quân tự vệ, khẩn trương luyện tập quân sự, sẵn sàng chiến đấu cao.

Do chủ động xây dựng lực lượng nên Thủ đô Hà Nội và các quận, huyện, thị xã thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) đã sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Tỉnh Hà Tây (cũ) đã tiễn Trung đoàn 541 bổ sung vào đội hình Sư đoàn 326 (Quân khu 2) tham gia chiến đấu tại Lai Châu; Trung đoàn 169 bổ sung cho tỉnh Cao Bằng; 6.780 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 587 tăng cường cho mặt trận hướng Tây Bắc. Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô quyết định bổ sung nhiệm vụ, biên chế cho Trung đoàn 47 để trở thành trung đoàn bộ binh chiến đấu hoàn chỉnh, bảo vệ Thủ đô[1].

Ngoài ra, để ứng phó với tình hình biên giới phía Bắc diễn biến phức tạp, khó lường, công tác tuyển quân khi đó đạt khối lượng lớn hơn những năm trước. Thành phố Hà Nội đã giao 16.210 người cho các đơn vị, đạt 81,27% kế hoạch. Các huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã tuyển chọn 7.500 thanh niên nhập ngũ đợt 1 năm 1979, trực tiếp giao cho các Quân khu 1, 2, 3 bổ sung cho các đơn vị đóng quân ở khu vực biên giới[2].

Cùng thời gian này, hai huyện Chương Mỹ và Thường Tín nhận lệnh động viên 2 tiểu đoàn chi viện mặt trận Lào Cai. Cùng với đó, các huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã đưa hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng dân quân tự vệ đi xây dựng các nông trường, lâm trường sát biên giới các tỉnh Lai Châu, Sơn La (chiếm 17,4% dân số)…

Sự chuẩn bị chu đáo của Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Tây (cũ) năm 1979 đã góp phần chi viện kịp thời cho biên giới phía Bắc, đẩy lùi quân xâm lược, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ Tổ quốc. Không những thế, chủ trương này còn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng bảo vệ vững chắc Thủ đô yêu dấu những năm sau đó.

 

[1] http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Chinh-tri/926765/bai-2-ha-noi-voi-chien-truong-bien-gioi

[2] http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Chinh-tri/926765/bai-2-ha-noi-voi-chien-truong-bien-gioi