Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng được Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vun đắp từ những ngày đầu ở Pác Bó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã phát huy truyền thống mạch nguồn cách mạng trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Thực tiễn đó cho thấy tinh thần mạch nguồn cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng ở Cao Bằng không chỉ được gìn giữ, mà còn được nâng lên thành sức mạnh hành động xuyên suốt các chặng đường cách mạng của dân tộc

Cao Bằng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954)

Tháng 5/1945, trước yêu cầu cấp bách của cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng rời Cao Bằng về Tân Trào để trực tiếp chỉ đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 22/8/1945, chính quyền cách mạng ở Cao Bằng được thiết lập, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, ngay sau đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đẩy dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ mới.

Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng đã nhất tề đứng lên chiến đấu, bảo vệ nền độc lập non trẻ của Tổ quốc.

Với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Cao Bằng trở thành một bộ phận trọng yếu của căn cứ địa Việt Bắc.

Trong chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947, quân và dân Cao Bằng đã kiên cường chiến đấu, kiềm chế và phản công quân Pháp tại nhiều địa bàn; các trận đánh lớn nhỏ diễn ra liên tiếp tiêu biểu là trận Đèo Bông Lau, góp phần làm thất bại hoàn toàn âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ.

Từ năm 1949-1950, trước yêu cầu mới của kháng chiến, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950 để tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới Cao Bằng, nhằm đánh dấu bước ngoặt chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến của dân tộc ta.

Với tinh thần “tất cả cho chiến dịch toàn thắng”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng đã tích cực chuẩn bị mọi mặt phục vụ chiến dịch: huy động hàng chục vạn ngày công, hàng nghìn thanh niên tham gia lực lượng vũ trang, cùng những đóng góp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến

Đặc biệt, trong chiến dịch này, Bác Hồ đã trực tiếp ra mặt trận tại điểm cao Báo Đông (xã Đức Long, huyện Thạch An cũ) chỉ đạo chiến dịch, theo dõi trực tiếp trận đánh cứ điểm Đông Khê – trận mở màn quyết liệt nhất của chiến dịch (16-17/9/1950) và làm bài thơ nổi tiếng “Lên núi” thể hiện tinh thần chiến đấu quyết tâm của quân dân ta .

Dân công phục vụ chiến dịch Biên Giới năm 1950 (Ảnh tư liệu)

Sau 29 ngày đêm chiến đấu với tinh thần kiên cường, chiến dịch toàn thắng, buộc quân Pháp phải rút lui, và ngày 03/10/1950 trở thành ngày Cao Bằng hoàn toàn được giải phóng, một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc nơi đây.

Chiến thắng Biên Giới đã làm thay đổi cục diện chiến trường, khiến địch chuyển sang phòng ngự bị động, đồng thời mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, mở ra hậu phương quốc tế của cách mạng Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước chuẩn bị tiếp theo của cuộc kháng chiến, hướng tới những thắng lợi lớn hơn như Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp, kết thúc chiến tranh, thực hiện hòa bình theo tinh thần Hiệp định Geneva khẳng định ý chí độc lập dân tộc Việt Nam.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Cao Bằng không chỉ chiến đấu kiên cường mà còn đóng góp lớn lao về nguồn lực, nhân lực và tinh thần cho cả nước. Những công sức ấy thể hiện sâu sắc tinh thần cách mạng cội nguồn theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: người chiến sĩ cách mạng phải gắn bó với dân, lấy dân làm gốc, lấy sức dân phục vụ kháng chiến, góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc.

Cao Bằng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975)

Sau chiến tranh chống Pháp kết thúc theo Hiệp định Geneva năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cao Bằng trở thành một trong những địa phương trọng yếu của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, một trong những nơi tập trung nguồn lực, bảo đảm an ninh và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Cao Bằng, với vị trí biên giới phía Bắc, tiếp nhận không chỉ dòng người đi bộ đội mà còn là cửa ngõ tiếp nhận viện trợ, hàng hoá từ các nước xã hội chủ nghĩa để chuyển vào miền Nam bằng nhiều tuyến chi viện, kết hợp với hoạt động của tuyến đường Trường Sơn và các tuyến vận tải chiến lược khác, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.

Vào tháng 02/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở lại thăm Cao Bằng, lần thăm cuối cùng trước lúc Người đi xa, trong bầu không khí phấn khởi của hậu phương miền Bắc đang trên đà phát triển và chiến đấu phục vụ kháng chiến. Đồng bào các dân tộc đón Bác như đón người thân trở về quê hương cách mạng sau hai thập kỷ xa cách, thể hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Bác và nhân dân nơi đây. Tại buổi mít tinh với hàng vạn đồng bào Cao Bằng, Bác Hồ căn dặn Đảng bộ và nhân dân tiếp tục đoàn kết, phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng kinh tế - xã hội, củng cố chính trị, bám dân, lấy dân làm gốc để vừa giữ vững hậu phương vừa giúp tiền tuyến miền Nam chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Người nhấn mạnh: cán bộ Đảng và chính quyền phải một lòng phục vụ nhân dân, sát cánh cùng cả nước thực hiện nhiệm vụ thống nhất đất nước, và mong Cao Bằng sớm trở thành “một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”.

Đây không chỉ là lời căn dặn mà còn cho thấy niềm tin của Bác vào truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết và khả năng vươn lên của một tỉnh biên giới còn nhiều khó khăn. Đây vừa là sự ghi nhận, vừa là lời giao nhiệm vụ, trở thành động lực để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Cao Bằng không ngừng phấn đấu, xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của Người.

Bộ đội ta tiến công địch trong chiến dịch Biên Giới năm 1950 (Ảnh tư liệu)

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng đã không ngừng nỗ lực giữ vững an ninh, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng – an ninh; đồng thời tiếp tục chi viện lực lượng, cơ sở vật chất và nguồn lực chiến đấu cho miền Nam. Hậu phương Cao Bằng không chỉ bền vững mà ngày càng lớn mạnh, góp phần cùng hậu phương miền Bắc làm nền tảng vững chắc cho phong trào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tinh thần cách mạng cội nguồn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gieo vào lòng nhân dân Cao Bằng được thể hiện sâu sắc trong giai đoạn này, từ ý chí chiến đấu không ngừng nghỉ đến sự phục vụ nhiệt thành cho tiền tuyến, từ trách nhiệm bảo vệ biên cương đến lòng tin chiến thắng tuyệt đối vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn.

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng đã khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy mạnh mẽ truyền thống cội nguồn cách mạng. Từ những thắng lợi vang dội trong chiến dịch Việt Bắc và Biên Giới cho đến vai trò hậu phương chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng luôn sống và chiến đấu theo tinh thần “dân tộc, độc lập, tự do”, cùng cả nước làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Tinh thần ấy không chỉ là di sản lịch sử mà còn là nguồn lực tinh thần to lớn tiếp tục được phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.