Đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi, đưa nước ta từ một nước thuộc địa, phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do. Thành công vĩ đại này bắt nguồn từ tầm nhìn chiến lược và sự kiên định tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với lợi ích quốc gia, dân tộc.
Ngay từ những ngày bôn ba tìm đường cứu nước và đặc biệt trong cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa, Người luôn nhất quán tư tưởng: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những điều tôi muốn, đó là tất cả những điều tôi hiểu”[1]. Mọi đường lối, sách lược của Đảng do Người khởi xướng đều quy tụ về một mục tiêu tối thượng là giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng lợi ích quốc gia chỉ có thể bảo vệ khi quy tụ được sức mạnh toàn dân. Người không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay đảng phái, miễn là người Việt Nam có lòng yêu nước và đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết thì đều được tập hợp vào mặt trận chung. Do đó, sức mạnh của Cách mạng tháng Tám chính là sức mạnh của sự đồng lòng hướng về lợi ích chung của dân tộc.
Khi thời cơ cách mạng đã đến, Người ra Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa với tinh thần cương quyết: "Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"[2]. Trong lúc này, lợi ích của giai cấp, của tầng lớp hay lợi ích riêng lẻ đều phải đặt dưới lợi ích sống còn của cả quốc gia, dân tộc. Bài học từ thành công của Cách mạng Tháng Tám chứng minh rằng độc lập, tự do không tự nhiên mà có, mà phải đánh đổi bằng ý chí kiên định và sự hy sinh quên mình vì lợi ích chung của non sông.
Không thể xuyên tạc lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết
Thời gian qua, tư tưởng đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc của Hồ Chí Minh và của Đảng ta đều là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch.
Một là, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về đặt lợi ích quốc gia, dân tộc trong lịch sử, đặc biệt giai đoạn Cách mạng Tháng Tám. Luận điệu chủ yếu là sự quy chụp tư tưởng dân tộc là "chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sô-vanh". Một số đối tượng rêu rao rằng Hồ Chí Minh đã "tuyệt đối hóa" yếu tố dân tộc, đi ngược lại lập trường giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi việc đặt lợi ích dân tộc lên trên hết trong giai đoạn 1939-1945 là sự "thay đổi lập trường mang tính cơ hội".
Hai là, xuyên tạc chủ trương đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc của Đảng ta hiện nay. Có những đối tượng đã đối lập hóa lợi ích của Đảng, Nhà nước với lợi ích quốc gia, dân tộc thông qua việc tuyên truyền luận điệu sai trái rằng mục tiêu của Đảng hiện nay "chỉ nhằm bảo vệ quyền lực của Đảng và chế độ", chứ không vì lợi ích thực sự của đất nước và nhân dân. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng việc Đảng ta kiên định nguyên tắc "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế" là tư duy “cũ kỹ”, “cản trở” hội nhập quốc tế toàn diện.
Có thể thấy rõ, trong tư tưởng Hồ Chí Minh có tính thống nhất biện chứng giữa dân tộc và giai cấp. Tư tưởng Hồ Chí Minh không hề biệt lập hay rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin: ở một nước thuộc địa, muốn giải phóng giai cấp thì trước hết phải giải phóng dân tộc. Đặt quyền lợi dân tộc lên hàng đầu chính là con đường duy nhất, đúng đắn nhất để giải phóng toàn thể nhân dân lao động.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo thông qua sự thống nhất tuyệt đối giữa lợi ích của Đảng và lợi ích của dân tộc. Ngay từ Cương lĩnh thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định ngoài lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, Đảng “không có lợi ích nào khác”. Việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa chính là điều kiện tiên quyết để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tách rời Đảng với Dân tộc là âm mưu “phi chính trị hóa” hòng làm suy yếu sức mạnh nội tại của đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta luôn đề cao lợi ích quốc gia gắn liền với luật pháp quốc tế. Chủ trương của Đảng xác định rõ: “Lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam luôn hài hòa với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”[3]. Việt Nam không theo đuổi chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, mà thực hiện nhất quán nguyên tắc dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền của nhau. Việc đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết chính là nền tảng để Việt Nam tự chủ, tự cường, hội nhập sâu rộng mà không bị hòa tan hay lệ thuộc.
Tư tưởng đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc chính là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Tính đúng đắn của nguyên tắc ấy đã được minh chứng bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và tiếp tục được khẳng định qua cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế to lớn của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình hiện tại.
Dưới ánh sáng tư tưởng của Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ luôn kiên định ý chí sắt đá, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết, trước hết, quyết tâm bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.256
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập I, tr.128
