Đảng và Nhà nước luôn coi trọng việc xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh lòng dân, “dựa vào dân”, “đại đoàn kết dân tộc” hay “lấy dân làm gốc”. Đại hội XIV của Đảng khẳng định xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, trước hết là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới; xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chính sách đại đoàn kết dân tộc làm cơ sở chính trị, pháp lý để xây dựng thế trận lòng dân”.[1]

Xây dựng thế trận lòng dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Thứ nhất, người đứng đầu đất nước qua các thời kỳ đã có những nhận thức đúng đắn về vai trò của nhân dân trong bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng quốc gia dân tộc.

Nổi bật là sự phát triển của tư tưởng thân dân trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Kinh nghiệm được Trần Hưng Đạo đúc kết là “vua tôi cùng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu,… làm thế nào thu hút được binh lính như cha con một nhà,… phải bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn”.

Nguyễn Trãi đã đúc kết lại rằng “lật thuyền mới biết sức dân như nước”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển sáng tạo truyền thống lịch sử Việt Nam và chủ nghĩa Mác-Lenin và khẳng định: “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.

Thứ hai, các chính quyền có nhiều biện pháp xây dựng thế trận lòng dân thông qua chăm lo đời sống nhân dân. Với đặc trưng là kinh tế nông nghiệp nên đa phần chính sách tập trung vào vấn đề thủy lợi, tô thuế. Bên cạnh việc chăm lo đề điều và thủy lợi, nhà Lý có 13 lần miễn giảm thuế và phát chẩn, nhà Trần là 9 lần, thời Lê sơ là 14 lần.

Về giáo dục, từ việc ban đầu chỉ có con em vua quan được học tập thì các trường của nhà nước được mở ở các tỉnh, huyện, đồng thời có quan lại coi sóc việc học, cũng như việc bố trí ruộng công làng xã để chăm lo việc giáo dục. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi giặc dốt là kẻ thù nguy hiểm của dân tộc, hạn trong 1 năm, tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết chữ quốc ngữ.

Thứ ba, nhiều mô hình tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giai tầng, địa bàn, trình độ, giàu nghèo với tinh thần chung là lòng yêu nước đã được xây dựng.

Hội nghị Diên Hồng (1285) là lần đầu tiên chính quyền trưng cầu dân ý, thể hiện sự coi trọng nhân dân, cho thấy giá trị và sức lan toả của việc xây dựng một mặt trận chung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thống nhất Việt Minh-Liên Việt, tháng 3/1951 (Ảnh tư liệu)

Đảng Cộng sản Việt Nam đã lần lượt lập ra nhiều Hội, Mặt trận khác nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở từng thời điểm khác nhau.

Năm 1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập, “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.

Từ Mặt trận Việt Minh, sau này là Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều là những tổ chức quan trọng để tập hợp quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thế trận lòng dân.

Thứ tư, việc tuyên truyền, tạo động lực cho người dân tham gia cũng là một vấn đề quan trọng.

Thời Trần, ý niệm về “Hào khí Đông A” được khắc sâu trong từng người dân Đại Việt để nhắc nhở về tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc.

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam luôn là sự kết hợp của mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; ở đó tuyên truyền cũng là vũ khí quan trọng để không chỉ người dân Việt Nam, mà còn là bạn bè quốc tế, nhân dân ở chính các nước xâm lược Việt Nam hiểu rõ bản chất chủ nghĩa thực dân, đế quốc và tính chính nghĩa của cách mạng Việt Nam.

Thứ năm, thực tiễn chỉ rõ rằng thế trận lòng dân là nhân tố quyết định đến thắng lợi hay thất bại trong bảo vệ độc lập dân tộc. Thắng lợi trước quân xâm lược đều mang đậm dấu ấn kết hợp sức mạnh toàn dân, quân-dân đồng lòng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là minh chứng tiêu biểu cho việc xây dựng thế trận lòng dân khi trên 26 vạn dân công ở khắp miền ngược, miền xuôi tham gia phục vụ tiền tuyến, sử dụng 14 triệu ngày công, chở hơn 4 triệu tấn vật phẩm với những trang thiết bị thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ. Ngược lại thất bại của nhà Hồ (1400-1407) trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược là ví dụ tiêu biểu cho việc thất bại trong xây dựng thế trận lòng dân khi điểm yếu chí tử của triều đại này là “lòng dân không theo”.

Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều phải kiên định đảm bảo “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân; thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.[2]

Công việc quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước là chăm lo cho đời sống nhân dân, “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Khi mạng xã hội và công nghệ hiện đại có thể khuếch tán thông tin nhanh chóng thì việc ban hành, thực thi các chính sách vì dân lại càng quan trọng để dân luôn tin tưởng vào chính quyền và tự động trở thành một bộ phận quan trọng trong thế trận lòng dân trên cả không gian thực và không gian mạng.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, tháng 12/1960 (Ảnh tư liệu)

Thứ hai, Đảng và chính quyền các cấp phải luôn xác định sự đoàn kết toàn dân là cội nguồn sức mạnh. Mọi cuộc chiến tranh của Việt Nam từ trước đến nay khi nhận được sự ủng hộ của nhân dân, huy động được sức mạnh toàn dân theo phương châm toàn dân bảo vệ Tổ quốc sẽ đem đến kết quả cuối cùng là thắng lợi.

Toàn dân bảo vệ Tổ quốc được thể hiện qua hình ảnh mọi giai tầng, gồm công nhân, nông dân, trí thức, thợ thủ công, tiểu tư sản,… người Việt Nam ở nước ngoài cùng góp công, góp của trong cuộc đấu tranh chung vì sự nghiệp của dân tộc.

Thứ ba, luôn giữ vững, bảo đảm mối quan hệ khăng khít giữa quân và dân. Việc duy trì quan hệ dân – quân gắn bó, thời bình là dân, thời chiến là quân vừa giúp chuẩn bị được lực lượng hậu bị quan trọng, vừa bảo đảm sức phát triển kinh tế lâu dài, đồng thời là sự gắn bó máu thịt giữa dân và quân. Cán bộ là đầy tớ của nhân dân, quân nhân có mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân luôn là biện pháp quan trọng nhất để duy trì khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận lòng dân.

Thứ tư, công tác tuyên truyền về xây dựng thế trận lòng dân ngày càng trở nên cần thiết. Những diễn biến mới trong sự chống phá của các thế lực thù địch không chỉ trên không gian thực mà còn trên không gian mạng, đánh vào tư tưởng của người dân hoặc một số bộ phận nhỏ có trình độ hiểu biết chưa cao, cộng với việc sử dụng công nghệ thông tin có thể dẫn đến lan truyền các vấn đề tiêu cực, gây tổn hại mạnh đến niềm tin và sự ủng hộ của người dân. Công tác tuyên truyền cần hướng đến từng người dân với tính cá nhân hóa cao, tức là phải thấu hiểu được đặc điểm chính trị - xã hội của từng nhóm dân cư, điều kiện kinh tế, văn hóa, cũng như tính gắn kết của các nhóm dân cư với cộng đồng, chính quyền. Việc tuyên truyền không chỉ dừng các kênh truyền thống mà còn tận dụng hiệu quả thành tựu của khoa học công nghệ. Công tác tuyên truyền vừa phải gắn với công tác gần dân, vừa phải bảo đảm trên hệ thống mạng xã hội để người dân hiểu rõ về đường lối chính sách pháp luật nhà nước, cũng như luôn trau dồi, củng cố hệ tư tưởng và góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để xây dựng vững chắc thế trận lòng dân cần thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố: kiên định quan điểm lấy dân làm gốc; ban hành và triển khai các chính sách hợp lòng dân; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gắn bó mật thiết giữa nhân dân với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; đồng thời xây dựng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo thông qua tính chính danh, minh bạch và trách nhiệm.

Hiện nay, thế trận lòng dân tiếp tục là nền tảng bảo đảm ổn định chính trị, tăng cường sức mạnh nội sinh và nâng cao vị thế quốc gia. Việc kế thừa và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm lịch sử này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một Việt Nam phát triển bền vững, giàu mạnh và gắn kết xã hội sâu sắc.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 78-79.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 237-238.