Bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng là phương pháp cách mạng đã góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Những luận điệu xuyên tạc chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng

Quan điểm xuyên tạc cho rằng: trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930-1975), phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng là không phù hợp, dẫn đến những hy sinh, mất mát quá nhiều của quân đội và nhân dân.

Mục đích của các thế lực thù địch khi đưa ra luận điệu trên: mưu toan đánh giá lại, bôi đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử Đảng; đổ lỗi nguyên nhân gây chiến tranh về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; cho rằng Việt Nam “hiếu chiến”; hạ thấp, phủ định tầm vóc của cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam, phủ định sức mạnh chủ nghĩa yêu nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ định xu thế tiến bộ của thời đại; phục vụ những mưu đồ chính trị đen tối đối với Việt Nam: chống phá chế độ, chống phá Đảng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đưa ra luận điệu trên, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng chống lại bạo lực phản cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; bôi đen lịch sử hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.

Tại sao Đảng phải sử dụng bạo lực cách mạng trong cách mạng Việt Nam (1930-1975)

Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định tính tất yếu của bạo lực cách mạng của quần chúng trong đấu tranh chống áp bức, bóc lột, giành chính quyền cách mạng.

C.Mác viết: “bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới trong lòng; bạo lực là công cụ mà sự vận động xã hội dùng để đánh thắng và đập tan tành những hình thức chính trị cứng đờ và chết”[1].

Lênin khẳng định:“Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được”[2].

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn đấu tranh giành độc lập, chống áp bức của các dân tộc trên thế giới và Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[3].

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 khóa II, năm 1959 xác định sử dụng bạo lực lực cách mạng đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân miền Nam (Ảnh tư liệu)

Trong hoàn cảnh bị các đế quốc lớn sử dụng sức mạnh tổng lực để xâm lược và áp đặt sự thống trị trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, vấn đề sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do là một tất yếu. Trong hoàn cảnh bị áp bức, nếu không đứng lên bằng chính sức mạnh của mình, dân tộc sẽ bị diệt vong. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, và bạo lực cách mạng chỉ được sử dụng khi không còn con đường hòa bình nào khác.

Các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XXI, đầu thế kỷ XX theo các khuynh hướng tư tưởng khác nhau, thực hiện phương pháp cải lương, thỏa hiệp, hoặc bạo động chống thực dân Pháp đều không thành công. Để đánh đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, cách mạng Việt Nam tất yếu phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng.

Trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã tập hợp được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân, nòng cốt là lực lượng công nhân, nông dân, vì mục tiêu cao nhất và cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám với sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đã tạo sức mạnh áp đảo, đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau khi giành lại độc lập, Đảng và nhân dân Việt Nam, hơn ai hết, tha thiết muốn có hoà bình, làm chủ đất nước để xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới. Nhưng đủ loại kẻ thù đã có mặt và tiếp tục kéo vào Việt Nam, hòng buộc nhân dân trở lại đời nô lệ. Nhân dân ta phải đứng lên kháng chiến bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, tiếp tục sự nghiệp cách mạng.

Trong suốt 30 năm (1945-1975), dân tộc Việt Nam phải đương đầu với những đế quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh, có kế hoạch chiến tranh qui mô, trang bị vũ khí hiện đại, âm mưu xảo quyệt và những hành động tàn bạo tiến hành chiến tranh xâm lược, đàn áp cách mạng, đàn áp nhân dân Việt Nam.

Xét về mặt pháp lý quốc tế, về quyền bình đẳng giữa các dân tộc như Hiến chương Liên hiệp quốc đã khẳng định thì hành động vũ trang xâm lược trở lại Việt Nam của thực dân Pháp sau tháng 8 năm 1945 nhằm áp đặt chế độ thực dân kiểu cũ, cũng như việc đế quốc Mỹ thay thế thực dân Pháp, tiến hành chế độ thống trị thuộc kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, đều là chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền.

Đối với thực dân Pháp xâm lược, một mặt, quân và dân ta kiên quyết đánh trả hành động chiến tranh, mặt khác, tìm mọi cách, kể cả việc chấp nhận một số nhân nhượng cần thiết để trì hoãn, tranh thủ thêm thời gian cho cả nước chuẩn bị về mọi mặt, để đến khi không thể trì hoãn thêm nữa sẽ phát động toàn quốc đứng lên kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng sớm phát hiện ý đồ quay lại Đông Dương và nguy cơ chiến tranh xâm lược từ phía thực dân Pháp nên đã hết sức đề phòng, vừa tích cực chuẩn bị, vừa tìm mọi cách để tránh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Trong thời gian hơn một năm, Chính phủ và nhân dân ta đã nhiều lần phải nhân nhượng (ký Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (chưa phải độc lập), cho quân Pháp ra đóng ở miền Bắc (sẽ rút dần trong 5 năm), hai bên tiếp tục đàm phán về các vấn đề liên quan; họp Hội nghị ở Đà Lạt (tháng 4/1946), Hội nghị Fontainerbleu (tháng 7 đến tháng 9/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp tìm mọi cách để đạt tới một giải pháp, cuối cùng chỉ ký được bản Tạm ước (ngày 14/9/1946) với đại diện Chính phủ Pháp…).

Thực tiễn lịch sử năm 1946 cho thấy, nhân dân ta đã kiềm chế, đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Đến tháng 12/1946, trước những yêu sách mà thực chất là "tối hậu thư" của phía Pháp, ta không còn nhân nhượng được nữa, vì "nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại đến quyền lợi cao trọng của dân tộc"[4] Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã kiên quyết phát động toàn dân kháng chiến.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta mới giải phóng được một nửa nước. Trước âm mưu và những hoạt động phá hoại Hiệp định Geneva của Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1954-1959, nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã làm hết sức mình nhằm đạt được mục tiêu hoà bình, thống nhất đất nước.

Hội nghị Bộ Chính trị cuối năm 1974, đầu năm 1975 chủ trương đẩy mạnh tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất bằng phương pháp hòa bình. Nhân dân Việt Nam buộc phải đấu tranh vũ trang khi không còn con đường nào khác. Từ năm 1954, Đảng chủ trương chuyển phương thức đấu tranh ở miền Nam từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Đến năm 1956, do sự phá hoại của kẻ thù, khả năng tổng tuyển cử để thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình không còn.

Với cuộc Đồng khởi năm 1960, nhân dân ta ở miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến công, từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, làm thất bại chính sách xâm lược và thống trị thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ.

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa số lượng lớn quân Mỹ và đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, vấn đề lớn đặt ra là, ta có chuyển sang phòng ngự không? Trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhiều băn khoăn lo lắng xuất hiện: so sánh lực lượng đôi bên quá chênh lệch, ta chưa có kinh nghiệm, liệu có đánh Mỹ được không ? Đảng ta đã xác định chúng ta không chuyển sang phòng ngự mà với tư tưởng cách mạng tiến công, tiếp tục tiến công, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng.

Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, các cấp lãnh đạo, chỉ huy chủ động và sáng tạo trong việc xây dựng lực lượng và thế trận tiến công địch ngay từ những ngày đầu Mỹ đổ quân. Các tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên chú trọng công tác giáo dục cho nhân dân hiểu rõ đường lối, quan điểm của Đảng, hiểu rõ cuộc chiến tranh nhân dân do Đảng lãnh đạo là vì dân, do dân tiến hành, trên cơ sở đó, lãnh đạo và tổ chức nhân dân kiên trì bám đất sản xuất, nâng cao quyền làm chủ của mình, liên tục tham gia đánh Mỹ, vượt mọi khó khăn thử thách.

Ph.Ăngghen từng viết: Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được tự giới hạn trong những phương thức thông thường để tiến hành chiến tranh. Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp mọi nơi - đó là phương thức duy nhất nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng được một dân tộc lớn, mà một quân đội ít mạnh hơn có thể đối lập được với một quân đội mạnh hơn, và có tổ chức tốt hơn[5].

Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng xác định đường lối cách mạng đúng, sử dụng đúng và linh hoạt các phương pháp cách mạng như phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, phương pháp thắng từng bước, phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp... đã tạo nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Đảng ta và nhân dân ta buộc phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh với hai nước đế quốc lớn, liên tục trong 30 năm mới hoàn thành được sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đây là hai cuộc chiến tranh giải phóng chống ngoại xâm vì quyền lợi tối cao của dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đảng ta, nhân dân ta quyết định kháng chiến vì không còn con đường nào khác, không kháng chiến là mất nước, dân làm nô lệ. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến đã bảo vệ được nền độc lập dân tộc mà nhân dân ta giành lại kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, khởi đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 

[1] Ph.Ăngghen: Chống Đuyrinh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1959, tr.308

[2] Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.33, tr. 28.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 391.

[4] Báo Sự thật, số 64, ngày 29/11/1946.

[5] Ăngghen - Lênin - Xtalin: Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb Sự thật, H, 1970, tr.27.