Với cách tiếp cận lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, dữ liệu làm tài nguyên và công nghệ làm động lực, Quảng Ninh đang từng bước tạo chuyển biến thực chất trong xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số. Những kết quả đạt được đang tạo nền tảng để địa phương tiếp tục bứt phá trong giai đoạn mới.

Kế thừa tinh thần đổi mới từ Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trên phạm vi quốc gia như một giải pháp có tính chiến lược để đổi mới mô hình tăng trưởng. Việc phát triển đồng bộ chính phủ số, kinh tế số và xã hội số là nền tảng quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm phát triển bền vững.

Quán triệt tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định thành phố Quảng Ninh phấn đấu trở thành một trong những địa phương tiên phong về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời coi đây là những động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; xây dựng Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trở thành vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế vào năm 2045.

1. Những kết quả đạt được về chuyển đổi số của thành phố Quảng Ninh

Các chủ trương của Trung ương về phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đã được thành phố Quảng Ninh cụ thể hóa bằng hệ thống nghị quyết, chương trình và kế hoạch triển khai đồng bộ. Điểm nổi bật là thành phố không xem chuyển đổi số đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin mà xác định đây là quá trình đổi mới toàn diện phương thức lãnh đạo, quản trị và cung cấp dịch vụ công. Từ Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đến việc chuyển theo sang giai đoạn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, định hướng phát triển của Quảng Ninh ngày càng được mở rộng theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa chuyển đổi số với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Kế hoạch chuyển đổi số toàn diện giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh hướng tới phát triển đồng bộ chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế là địa phương đi đầu về chuyển đổi số, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình phát triển. Dữ liệu được xác định là nguồn tài nguyên chiến lược; nền tảng số và công nghệ số đóng vai trò động lực phát triển; đổi mới sáng tạo là phương thức tạo đột phá, trong khi an toàn, an ninh mạng được coi là điều kiện bảo đảm cho quá trình chuyển đổi số diễn ra bền vững.

Trong giai đoạn 2021-2025, thành phố Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận về chuyển đổi số trong các lĩnh vực.

Thứ nhất, vềđột phá trong xây dựng chính quyền số

Quảng Ninh đã đưa vào vận hành đồng bộ và từng bước hoàn thiện nhiều hệ thống hạ tầng như Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp, hệ thống một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến, hệ thống quản lý văn bản điện tử, chữ ký số, họp không giấy tờ và hệ thống điều hành thông minh. Sau 05 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, tổng số thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến: 2.267 dịch vụ, đạt 100%; 26.390 chứng thư số chuyên dùng công vụ (gồm 4.093 tổ chức và 22.297 cá nhân); hoàn thành 90/104 cơ sở dữ liệu dung chung (đạt khoảng 86,5%) cơ bản bao phủ các lĩnh vực quản lý nhà nước. Trong khi đó, trước khi thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU là 1.784 dịch vụ công trực tuyến; 7.800 tổ chức và CBCCVC sử dụng chữ ký số chuyên dùng[1]…

Hiệu quả của quá trình chuyển đổi số được phản ánh khá rõ qua nhiều bộ chỉ số đánh giá chất lượng điều hành cấp tỉnh. Năm 2025, Quảng Ninh đạt 93,16/100 điểm PAR INDEX, xếp thứ 2 trong số 34 tỉnh, thành phố; chỉ số SIPAS đạt 88,33%, cũng đứng thứ 2 toàn quốc. Đặc biệt, PCI đạt 67,55 điểm, tiếp tục đưa Quảng Ninh vào nhóm năm địa phương có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước[2]. Việc duy trì vị trí dẫn đầu PCI trong 13 năm liên tiếp cho thấy những cải cách dựa trên nền tảng số đã tạo ra hiệu quả thực chất đối với môi trường đầu tư và chất lượng quản trị địa phương.

Thứ hai, thúc đẩy phát triển kinh tế số

Các chỉ tiêu phát triển kinh tế đã phản ánh rõ hơn hiệu quả của quá trình chuyển đổi số tại Quảng Ninh. Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 7,73% GRDP; năng suất lao động xã hội duy trì mức tăng bình quân trên 11%/năm[3]. Việc phổ cập hóa đơn điện tử, phát triển du lịch thông minh, logistics số và hình thành Khu công nghệ thông tin tập trung Hạ Long ICT Park cho thấy kinh tế số đang từng bước trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của Quảng Ninh.

Nhiều doanh nghiệp trong tỉnh từng bước chuyển đổi mô hình quản trị, ứng dụng nền tảng số trong sản xuất kinh doanh, quản lý chuỗi cung ứng và tiếp cận thị trường. Đặc biệt, ngành du lịch Quảng Ninh đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quảng bá, quản lý và phục vụ du khách; góp phần nâng cao trải nghiệm du lịch thông minh và xây dựng hình ảnh địa phương hiện đại.

Thứ ba, từng bước hình thành xã hội số

Cùng với sự phát triển của chính quyền số và kinh tế số, các tiện ích số ngày càng được ứng dụng rộng rãi, góp phần hình thành nền tảng xã hội số tại thành phố Quảng Ninh. Đến nay, tỷ lệ hồ sơ sức khỏe điện tử, học bạ điện tử và thanh toán điện tử đều đạt 100%; 100% hộ gia đình được sử dụng Internet băng rộng, trong đó hạ tầng cáp quang phủ tới 95% hộ dân4. Nhiều nền tảng số đã được đưa vào phục vụ giáo dục, y tế và quản lý đô thị như học trực tuyến, ứng dụng phản ánh hiện trường, hệ thống cảnh báo thông minh. Bên cạnh đó, Quảng Ninh quan tâm nâng cao năng lực số của người dân thông qua các Tổ công nghệ số cộng đồng. Đây là lực lượng trực tiếp hướng dẫn người dân khai thác các dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và các ứng dụng số phục vụ đời sống hằng ngày.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số và dữ liệu số

Quảng Ninh xác định hạ tầng số là nền tảng quan trọng của chuyển đổi số. Do vậy, thành phố đã tập trung phát triển mạng viễn thông tốc độ cao, mở rộng phủ sóng Internet (toàn tỉnh 5.827 trạm thu, phát sóng thông tin di động; tỷ lệ phủ sóng 4G đạt khoảng 99,6% dân số; mạng 5G với 677 trạm phủ đạt 94%) 5; chỉ số Hạ tầng số DTI năm 2024 đứng thứ Nhất toàn quốc; xây dựng trung tâm dữ liệu (hiện tỉnh có 03 Trung tâm Tích hợp dữ liệu)6; kết nối liên thông cơ sở dữ liệu; tăng cường bảo đảm an toàn thông tin mạng. Đặc biệt, Quảng Ninh chú trọng xây dựng dữ liệu số đồng bộ, phục vụ công tác quản trị, điều hành và cung cấp dịch vụ công. Quan điểm “dữ liệu là tài nguyên mới” đang từng bước được hiện thực hóa trong quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thứ năm, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Quảng Ninh từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua việc tăng cường kết nối giữa chính quyền, doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu. Trọng tâm là thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), phát triển doanh nghiệp công nghệ số, đổi mới phương thức quản trị công và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số. Những định hướng này đang tạo động lực mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững của tỉnh trong bối cảnh kinh tế số.

Ảnh: Đăng ký khám, chữa bệnh qua kiosk thông minh tại Bệnh viện Đa khoa thành phố (Nguồn: Báo Quảng Ninh)

2. Một số khó khăn, hạn chế và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện tại Quảng Ninh trong thời gian tới

Trong quá trình triển khai chuyển đổi số trên địa bàn, thành phố Quảng Ninh đã phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức như: Thứ nhất, hạ tầng số chưa thật sự đồng bộ ở khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải.Thứ hai, kinh tế số phát triển chưa tương xứng, ví dụ như: Khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế rất lớn, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP năm 2025 đạt 7,73%, trong khi mục tiêu Nghị quyết đặt ra là 20% vào năm 2025 - chênh lệch 12,27 điểm phần trăm7; chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chậm và không đồng đều, mới dừng lại ở mức dùng hóa đơn điện tử, phần mềm kế toán cơ bản, chưa thật sự chuyển đổi mô hình kinh doanh trên nền tảng số… Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực số chưa đồng đều ở cả cán bộ, công chức và người dân về khả năng thích ứng với công nghệ mới, đặc biệt nhân lực chuyên trách về AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng còn mỏng, thiếu nghiêm trọng (mỗi cơ quan nhà nước trong tỉnh, trung bình chỉ có 1 - 2 người phụ trách toàn bộ công tác chuyển đổi số8. Thứ tư, dữ liệu số còn phân tán, chưa khai thác hiệu quả, chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái dữ liệu mở. Mặc dù tỉnh đã hoàn thành 90/104 CSDL (86,5%), các CSDL đã xây dựng phần lớn còn ở trạng thái “có dữ liệu” nhưng chưa đến trạng thái “khai thác dữ liệu thông minh”9. Mặt khác, chất lượng cơ sở dữ liệu chưa đồng đều… Thứ năm, việc ứng dụng các công nghệ số như AI, IoT, Big Data còn mang tính bề mặt, chưa đi vào chiều sâu, chưa tạo được đột phá rõ nét và mới dừng ở bước khởi đầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu thế sâu, rộng trên toàn cầu, để đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương với mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, tỉnh Quảng Ninh xác định 05 trụ cột đột phá về chuyển đổi số trong giai đoạn tới, gồm: (1) Đột phá về dữ liệu - nền tảng của mọi đột phá; (2) Đột phá về trí tuệ nhân tạo và công nghệ số tiên tiến; (3) Đột phá về kinh tế số; (4) Đột phá về nhân lực số; (5) Đột phá về mô hình phát triển mới dựa trên nền tảng số.

Trong thời gian tới, để đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên mọi mặt, thành phố Quảng Ninh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tỉnh tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ, doanh nghiệp và người dân về vai trò của chuyển đổi số. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư hạ tầng số theo hướng hiện đại, đồng bộ, trọng tâm là mở rộng hạ tầng viễn thông, phát triển mạng 5G, xây dựng trung tâm dữ liệu và các nền tảng số dùng chung.

Hai là, chú trọng thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng phục vụ kinh tế số phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của thành phố song song với bảo vệ môi trường, đảm bảo tính ổn định, bền vững. 

Ba là, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao qua việc tăng cường đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức và người dân và đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, các viện.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển dữ liệu số theo hướng chuẩn hóa dữ liệu trên nguyên tắc “đúng - đủ - sạch - sống - dùng chung”.

Năm là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với ứng dụng hiệu quả các công nghệ số tiên tiến; tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghệ số và các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cùng người dân trở thành chủ thể tham gia tích cực vào tiến trình chuyển đổi số của tỉnh.

Với quyết tâm chính trị cao, tư duy đổi mới và phương thức triển khai sáng tạo, trên nền tảng đã được xây dựng cùng khát vọng phát triển mạnh mẽ, thành phố Quảng Ninh sẽ tiếp tục bứt phá, trở thành hình mẫu tiêu biểu về chuyển đổi số toàn diện, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số./.

 

[1],4,5,6,7,8,9 Sở Khoa học công nghệ Quảng Ninh (2026), Báo cáo số 186/BC-SKHCN, ngày 06/5/2026 về đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và đề xuất phương án triển khai giai đoạn tiếp theo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

[2] Cao Quỳnh (2026), Hội nghị phân tích chuyên sâu chỉ số PAR INDEX, SIPAS, PCI, BPI https://baoquangninh.vn/hoi-nghi-phan-tich-chuyen-sau-chi-so-parindex-sipas-pci-bpi-3408339.html

[3] Sở Khoa học công nghệ Quảng Ninh (2026), Báo cáo số 186/BC-SKHCN, ngày 06/5/2026 về đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và đề xuất phương án triển khai giai đoạn tiếp theo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.