Đối với các dân tộc thiểu số, ngôn ngữ mang ý nghĩa đặc biệt, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và hệ giá trị riêng biệt được tích luỹ qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một, thậm chí biến mất. Trước thực trạng đó, số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số được xem là một giải pháp mang tính chiến lược, góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số được xem là một giải pháp mang tính chiến lược nhằm phát huy bản sắc văn hóa. Ảnh minh họa bởi AI.
Thực trạng mai một ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện nay
Theo các nghiên cứu ngôn ngữ học và thống kê của các cơ quan chuyên môn, Việt Nam hiện có khoảng hơn 100 ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau, trong đó phần lớn thuộc về các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng được sử dụng ổn định và bền vững. Nhiều ngôn ngữ chỉ còn tồn tại trong phạm vi hẹp của cộng đồng nhỏ, với số lượng người sử dụng ngày càng giảm. Có những ngôn ngữ chỉ còn vài nghìn, thậm chí vài trăm người sử dụng, chủ yếu là người cao tuổi. Theo đánh giá của các nhà ngôn ngữ học, Việt Nam hiện có hàng chục ngôn ngữ dân tộc thiểu số được xếp vào nhóm “nguy cơ mai một” hoặc “nguy cơ biến mất” nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời.
Một biểu hiện rõ rệt của tình trạng mai một ngôn ngữ là sự suy giảm mạnh mẽ trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của thế hệ trẻ. Kết quả điều tra xã hội học tại nhiều địa phương cho thấy, tỷ lệ thanh thiếu niên dân tộc thiểu số sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày đang giảm đáng kể so với các thế hệ trước. Ở một số cộng đồng, trên 50% người trẻ không còn sử dụng thành thạo tiếng dân tộc, thậm chí không thể giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Thay vào đó, tiếng Việt phổ thông trở thành ngôn ngữ chính trong gia đình, trường học và các mối quan hệ xã hội. Điều này dẫn đến hiện tượng “đứt gãy ngôn ngữ” khi thế hệ trẻ không còn đủ năng lực để tiếp nhận và truyền lại ngôn ngữ truyền thống cho thế hệ sau. Bên cạnh sự suy giảm số lượng người sử dụng, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số còn đang đối mặt với nguy cơ mất đi hệ thống chữ viết và các hình thức ghi chép truyền thống. Trên thực tế, không phải dân tộc nào cũng có chữ viết riêng, và ngay cả với những dân tộc đã từng có chữ viết, việc sử dụng chữ viết ấy trong đời sống hiện nay cũng rất hạn chế. Phần lớn các tri thức văn hoá như truyện cổ, sử thi, luật tục, dân ca, tri thức sản xuất và y học dân gian vẫn tồn tại chủ yếu dưới hình thức truyền miệng.

Một giờ học ngôn ngữ dân tộc ở Trà Vinh. Ảnh: bvhttdl.gov.vn
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số, song việc triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, chỉ một số ngôn ngữ dân tộc được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, chủ yếu dưới dạng thí điểm hoặc tự chọn, với phạm vi và thời lượng còn hạn chế. Theo số liệu của ngành giáo dục, số lượng học sinh được học tiếng dân tộc thiểu số trong trường phổ thông chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số học sinh dân tộc thiểu số. Việc thiếu giáo viên chuyên môn, giáo trình phù hợp và phương pháp giảng dạy hấp dẫn khiến việc học tiếng dân tộc chưa thực sự thu hút người học, đặc biệt là thế hệ trẻ. Sự suy giảm số lượng người sử dụng, đứt gãy truyền thừa thế hệ, thiếu hụt môi trường giáo dục và không gian số - nơi ngôn ngữ có thể được sử dụng, lan toả và tương tác trong đời sống hiện đại - là những dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Việc nhận diện đầy đủ và dựa trên các số liệu cụ thể về thực trạng này là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát huy ngôn ngữ dân tộc thiểu số một cách hiệu quả trong thời gian tới.
Giải pháp nâng cao hiệu quả số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số
Trước hết, cần nâng cao chất lượng và tính hệ thống của công tác số hoá bằng việc xây dựng các bộ cơ sở dữ liệu ngôn ngữ dân tộc thiểu số có tính chuẩn hoá cao, được tổ chức khoa học, bao gồm dữ liệu âm thanh, hình ảnh, văn bản và ngữ cảnh sử dụng ngôn ngữ trong đời sống thực tiễn. Việc số hoá không nên chỉ dừng lại ở ghi chép từ vựng hay ngữ pháp, mà cần hướng tới việc phản ánh đầy đủ chiều sâu văn hoá, tư duy, tri thức bản địa, phong tục, tín ngưỡng gắn liền với ngôn ngữ, qua đó bảo đảm tính toàn vẹn và giá trị lâu dài của di sản ngôn ngữ trong môi trường số. Song song với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để nâng cao khả năng sử dụng và lan toả ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong không gian số, thông qua việc phát triển các công cụ hỗ trợ thân thiện, dễ tiếp cận như bộ gõ, font chữ, bàn phím điện tử, ứng dụng học ngôn ngữ trên nền tảng di động, cũng như từng bước tích hợp các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, nhận dạng giọng nói, chuyển đổi giọng nói – văn bản và dịch tự động ở mức độ phù hợp. Những công cụ này không chỉ giúp người dân thuận tiện hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình, mà còn tạo điều kiện để ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện diện ngày càng nhiều trên Internet, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số, góp phần thu hẹp khoảng cách số và nâng cao vị thế của ngôn ngữ trong đời sống hiện đại.
Một lớp học chữ Nôm Dao với học viên phần lớn là những người đàn ông trưởng thành. Ảnh: cms.thainguyen.vn
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường gắn kết số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số với giáo dục và truyền thông, coi đây là môi trường then chốt để ngôn ngữ được “sống” và phát triển bền vững. Cần đẩy mạnh xây dựng học liệu số, bài giảng điện tử, sách giáo khoa số song ngữ, đồng thời khuyến khích sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo như video, podcast, phim hoạt hình, trò chơi giáo dục, nội dung mạng xã hội bằng tiếng dân tộc thiểu số, đặc biệt hướng tới đối tượng thanh thiếu niên. Thông qua các hình thức truyền tải hiện đại, hấp dẫn, ngôn ngữ dân tộc thiểu số không chỉ được bảo tồn mà còn trở nên gần gũi, thiết thực, góp phần khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc văn hoá trong cộng đồng. Bên cạnh yếu tố công nghệ và nội dung, việc nâng cao hiệu quả số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số cần đặc biệt chú trọng vai trò chủ thể của chính cộng đồng. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình thu thập tư liệu, kiểm chứng dữ liệu, truyền dạy ngôn ngữ và sáng tạo nội dung số. Đồng thời, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ về nguồn lực, đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng công nghệ và thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và tổ chức xã hội.
Thông qua việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên, số hoá ngôn ngữ dân tộc thiểu số sẽ thực sự trở thành chìa khoá quan trọng để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam đa dạng, thống nhất và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số. Đây không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn di sản, mà còn là yêu cầu cấp thiết để các ngôn ngữ dân tộc thiểu số tiếp tục hiện diện, phát triển và đồng hành cùng tiến trình hiện đại hoá đất nước.
Tài liệu tham khảo
- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2017), Đề án bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
- Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, ban hành theo Quyết định số 749/QĐ-TTg.
- Viện Ngôn ngữ học – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (nhiều năm), Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội.
- Nguyễn Văn Khang (2019), Ngôn ngữ học xã hội và vấn đề bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Nxb Giáo dục Việt Nam.
- Trần Trí Dõi (2018), Ngôn ngữ và văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Tạp chí Ngôn ngữ.
