Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời được 96 năm - gần một thế kỷ đi qua với biết bao thăng trầm nhưng nhân dân ta vẫn một niềm tin theo Đảng, gọi Đảng bằng cái tên trìu mến và thiêng liêng: Đảng ta! Cái tên đó bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là trọng tâm chống phá

Bất cứ một đảng nào ra đời cũng có nguyên tắc hoạt động để duy trì sự tồn tại và phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động dựa trên năm nguyên tắc, trong đó có một nguyên tắc rất đặc biệt mà không phải đảng nào cũng có được: “Đảng giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân”. Đây là nguyên tắc thường bị các thế lực chống phá với các luận điệu xuyên tạc trên một số khía cạnh như sau:

Một là, có luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “không phải là đảng của nhân dân”, mà là “đảng của những người làm quan, có chức, có quyền trong bộ máy hệ thống chính trị”  hay nguồn gốc sức mạnh của đảng không phải bắt nguồn từ sự gắn bó mật thiết với nhân dân mà là từ “quyền lực chính trị của đảng duy nhất cầm quyền”.

Hai là, ý kiến cho rằng gắn bó với nhân dân không phải là bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam vì “Đảng là lực lượng lãnh đạo nhân dân, Đảng không cùng chung lợi ích với nhân dân”.

Ba là, cũng có ý kiến cho rằng ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nên “độc quyền”, “phi dân chủ”, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” chỉ là khẩu hiệu “mị dân”.

Mục đích của những luận điệu trên là nhằm xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó xuyên tạc, phủ nhận mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân nhằm làm phai nhạt niềm tin của Nhân dân với Đảng. Đây là những luận điệu chống phá rất nguy hiểm vì nó tấn công trực diện vào vấn đề căn cốt là niềm tin của nhân dân với Đảng nên rất cần nhận diện rõ và có những luận cứ đấu tranh xác đáng.

Không thể phủ nhận mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân

Một là, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân vì nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc nên luôn được nhân dân đùm bọc, che chở và nuôi dưỡng. Từ khi thành lập đến nay, tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng đều có nguồn gốc xuất thân từ giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức và những người lao động khác tự nguyện gia nhập vào Đảng. Mục đích lý tưởng của Đảng không gì khác là vì độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Điều này tạo nên bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai là, thực tiễn ra đời, xây dựng, phát triển và lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đều cho thấy, ở bất kỳ thời kỳ nào Đảng cũng là đều gắn bó mật thiết với nhân dân, vì nhân dân mà tồn tại và phát triển. Ngay từ Điều lệ vắn tắt khi thành lập Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã xác định tôn chỉ của Đảng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”[1].

Xuất phát từ tôn chỉ, mục đích của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”[2], “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân[3]. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[4]. Gắn bó với nhân dân là vừa là cơ sở tồn tại của Đảng, vừa là điều kiện tiên quyết để Đảng thực hiện thắng lợi vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình.

Ba là, thực tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy, vấn đề dân chủ hay không dân chủ không phải chỉ phụ thuộc vào một đảng hay nhiều đảng cầm quyền. Chế độ dân chủ của mỗi quốc gia phụ thuộc trước hết vào bản chất, mục đích của đảng cầm quyền và cơ chế vận hành của thể chế chính trị của quốc gia đó. Đảng cầm quyền vì lợi ích của ai, hệ thống chính trị đó phục vụ lợi ích của ai, có vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân lao động hay không, chứ không phải cứ “đa nguyên”, “đa đảng” mới là dân chủ. Theo đó, không thể nói thể chế nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “phi dân chủ”, cũng không thể nói đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một số nước mới là dân chủ thực sự.

Mỗi quốc gia có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, nhân dân ở mỗi nước đều có quyền lựa chọn chế độ chính trị của riêng mình. Điều quan trọng nhất đối với nhân dân ở mỗi nước là Đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, xã hội do một đảng duy nhất cầm quyền có ổn định và phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không? Mức độ dân chủ hay không dân chủ của chế độ chính trị ở một quốc gia không phụ thuộc vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mà nó phụ thuộc vào bản chất, mục đích của chính đảng cầm quyền và cơ chế vận hành tổng thể của hệ thống chính trị.

Ở Việt Nam, cơ chế vận hành tổng thể của hệ thống chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cũng là sự lựa chọn, ủy nhiệm của Nhân dân. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, được Nhân dân giao quyền quản lý đất nước, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân. Bất cứ người dân nào có nguyện vọng phấn đấu, rèn luyện, đủ tiêu chuẩn, điều kiện đều có thể đứng trong hàng ngũ vào Đảng. Mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp ý kiến xây dựng và hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên; những công dân có đủ điều kiện đều có quyền tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Sự tham gia của người dân càng làm cho Đảng thêm vững mạnh.

Hơn nữa, trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch ra sức chống phá Đảng nhưng nhân dân Việt Nam vẫn trọn niềm tin theo Đảng, bảo vệ Đảng bằng tất cả ý chí và nghị lực, trách nhiệm và tình cảm để hình thành nên “thế trận toàn dân” vững chắc. Với phương châm “còn Đảng, còn mình”, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân tùy theo năng lực, sở trường, trách nhiệm của mình đang tích cực tham gia bảo vệ Đảng trên nhiều phương diện khác nhau. Từ xây dựng, củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng đến đấu tranh với các hoạt động chống phá trên Internet và mạng xã hội.

Đặc biệt, mỗi khi có những sự kiện chính trị trọng đại như mỗi kỳ đại hội đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc, đó không phải là sự kiện của riêng Đảng mà của cả dân tộc. Đó cũng không phải chỉ là sự mong chờ của hàng triệu đảng viên mà của cả hàng trăm triệu người dân Việt Nam. Ai ai cũng đón đợi những quyết sách chiến lược mới của Đảng với một niềm tin về một tương lai ngày càng tốt đẹp hơn cho toàn thể dân tộc.

Gần một thế kỷ đi qua tuy có những bước thăng trầm nhưng nhìn lại một hành trình dài của dân tộc, mỗi người dân Việt Nam đều nhận thấy rõ chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế lớn đến vậy. Đó là một minh chứng thuyết phục để khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm rất tốt sứ mệnh của mình để mỗi người dân Việt Nam đều yêu mến tự hào gọi Đảng là: ĐẢNG TA!

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.3, tr.5

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.12, tr.334

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.13, tr.164

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.89