Chủ tịch Hồ Chí Minh nổi tiếng là người biết trọng dụng và quy tụ nhân tài. Tài “dùng người” của Bác đã phát huy được tài năng của nhiều cá nhân xuất chúng, góp phần to lớn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, để lại những kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Trong bối cảnh mới hiện nay, khi đất nước cần nhiều nhân tài để phát triển trong kỷ nguyên mới, học tập lời dạy của Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh “có việc lớn thì tìm người giỏi nhất để giao”

1. Kế thừa kinh nghiệm “Dụng nhân như dụng mộc” của cha ông ta trong lịch sử, ngày 4/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Thiếu óc tổ chức, một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban Nhân dân, nêu rõ: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe, miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì ta đặt ngay vào việc ấy”[1].

Ngày 14/11/1945, đất nước vừa mới độc lập, cần nhiều nhân tài để kiến thiết trên mọi lĩnh vực, phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Nhân tài và kiến quốc”, Người viết: “Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển càng thêm nhiều”[2].

Người bày tỏ lòng mong muốn: “mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[3]

Một năm sau, ngày 20/11/1946, vẫn với lòng mong mỏi tìm người hiền tài để kiến thiết đất nước, Người lại ra chỉ thị “Tìm người tài đức”, khẩn thiết nêu rõ: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[4].

Với mong mỏi tìm người hiền tài để trọng dụng, để kiến thiết đất nước, kháng chiến thắng lợi, trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một ban cố vấn 10 người, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc “triều ẩn lập thân hành thiện”, mà trước đó, Bác đã hai lần viết thư mời cụ Bùi ra giúp Chính phủ non trẻ của nước nhà nhưng cụ Bùi viện lý do là quan lại cấp cao của Nam triều quá lâu, không hiểu gì về thời thế mới, sợ không đóng góp gì được cho cách mạng nên không dám nhận lời. Sau 3 lần viết thư mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến ngày 24/11/1945, cụ Bùi Bằng Đoàn đã nhận lời ra giúp nước, giúp dân.

Một trong những người được Chủ tịch Hồ Chí Minh trọng dụng là cụ Huỳnh Thúc Kháng, đã thay Người điều hành Chính phủ trong những ngày tháng Người sang Pháp tìm giải pháp vãn hồi hòa bình (Ảnh tư liệu) 

Tiêu biểu và kiên trì trong cách trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mời cụ Huỳnh tham gia Chính phủ. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I ngày 02/3/1946, khi giới thiệu Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, Người gọi cụ Huỳnh là “một người đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết”. Cụ được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức, củng cố và điều hành chính quyền.

Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập, cụ Huỳnh được bầu làm Hội trưởng.

Hai ngày sau, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL, ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Chủ tịch những công văn thường ngày và chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ trong thời gian Người đi vắng.

Từ ngày 31/5 đến 21/10/1946, cụ Huỳnh thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh điều hành công việc thường ngày của Chính phủ, đảm nhiệm trọng trách với cương vị Quyền Chủ tịch nước.

Trước lúc sang Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cụ Huỳnh: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái “bất biến” là lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc; “vạn biến” là cách ứng xử trước những biến động phải linh hoạt, phù hợp với tình hình cụ thể. Trong hơn bốn tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh vắng mặt, cụ Huỳnh cùng Chính phủ xử lý nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại phức tạp, góp phần giữ vững hoạt động của chính quyền cách mạng.

Tiếp đó, là sự trọng dụng nhân tài của Bác, huy động đội ngũ nhân tài, trí thức yêu nước tham gia kháng chiến và sau này trở thành những nhà khoa học đầu ngành của nước ta: Kỹ sư Phạm Quang Lễ (Giáo sư Trần Đại Nghĩa); Giáo sư, bác sĩ Trần Hữu Tước; kỹ sư mỏ và luyện kim Võ Quý Huân; kỹ sư mỏ và luyện kim Võ Đình Quỳnh; Giáo sư Tạ Quang Bửu; Giáo sư Lê Văn Thiêm; Giáo sư Nguyễn Văn Huyên,...

Học Bác trọng dụng nhân tài, trước hết phải có lòng nhân ái; có lòng độ lượng, rộng rãi thì mới có thể đối xử với người tài đức một cách chí công vô tư, không có thành kiến. Muốn dùng nhân tài phải biết quý trọng nhân tài, nhưng trước hết phải biết phát hiện, lựa chọn và hiểu biết nhân tài.

Bác Hồ có cách phát hiện, lựa chọn nhân tài độc đáo; “quy trình” tìm kiếm nhân tài của Bác không máy móc, cứng nhắc một phía từ tổ chức, mà luôn biết khai thác trí tuệ, tài năng trong mấy chục triệu đồng bào với một thái độ thật sự cầu thị, chân thành. Muốn dùng được người tài, phải biết phân loại người tài, không phải ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy phải tùy tài mà dùng người, xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc.

Bài học không thành công trong sử dụng nhân tài Bác Hồ thường nhắc tới là “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng”. Người tài đến với Bác vì họ thấy mình trong Bác, bởi Bác tạo điều kiện cho người tài sống trong môi trường dân chủ, mọi người tài xứng đáng làm chủ vận mệnh đất nước, đem tài năng của mình phụng sự Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được tài năng và quy tụ kỹ sư Trần Đại Nghĩa từ Pháp về nước tham gia kháng chiến, trở thành nười chế tạo vũ khí hàng đầu của Việt Nam (Ảnh tư liệu)

2. Trong 40 năm lãnh đạo đổi mới đất nước, học tập, phát huy bài học kinh nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài, Đảng ta đã thu hút, quy tụ được hàng ngàn nhân sỹ, trí thức yêu nước, những người có tài trong và ngoài nước đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp đổi mới của nước ta.

Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về cán bộ, trọng dụng cán bộ, nhân tài, tiêu biểu như: Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18/6/1997 của Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhấn mạnh: “Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp từ Trung ương đến cơ sở; cán bộ khoa học đầu ngành; cán bộ quản lý kinh doanh các doanh nghiệp lớn”.

Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004, của Bộ Chính trị “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” chỉ rõ: “Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước”.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X, “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhấn mạnh: “Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”.

Kết luận số 86-KL/TW, ngày 24/1/2014, của Bộ Chính trị “Về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ” chỉ rõ: “Chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ nhằm bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn cán bộ, chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực phục vụ lâu dài cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; cần có cơ chế đặc thù, đầu tư thỏa đáng tạo bước đột phá về chính sách và trong tổ chức thực hiện để đủ sức thu hút người hiền tài”.

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” xác định: “Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững”; “có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ tài năng và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ”.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định: “Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”...

Ngày 01/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về phát huy sức mạnh tổng hợp của đội ngũ cán bộ các viện hàn lâm, viện nghiên cứu trong tham mưu chiến lược. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, khối lượng báo cáo hay số lượng đề án chưa phải thước đo đầy đủ của chất lượng tham mưu, điều quan trọng hơn là nghiên cứu có giúp nhìn thấy sớm vấn đề, hiểu đúng nguyên nhân, lựa chọn được chính sách và tháo gỡ được khó khăn trong thực tiễn hay không. Tiềm lực nghiên cứu của đất nước rất lớn, nhưng chưa được tổ chức thành sức mạnh chung. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu huy động người tài bằng những cách linh hoạt, với tinh thần “có việc lớn thì tìm người giỏi nhất để giao, không bó hẹp trong biên chế. Cần sử dụng nhóm nghiên cứu liên ngành, nhóm phản ứng nhanh, chuyên gia kiêm nhiệm, biệt phái có thời hạn, tạo sự trao đổi nhân lực giữa cơ quan tham mưu và cơ quan nghiên cứu”[5].

Như vậy, học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong 40 năm đổi mới, nhất là về trọng dụng nhân tài trong những thời điểm mang tính bước ngoặt, đánh dấu sự phát triển của đất nước được Đảng phát huy một cách mạnh mẽ.

Đảng nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, trọng dụng cán bộ có đức, có tài. Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuẩn bị nguồn cán bộ cho chức danh lãnh đạo, quản lý ở các cấp được quan tâm; chú trọng rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; đổi mới công tác đánh giá cán bộ; tăng cường công tác luân chuyển cán bộ, tạo cơ hội để cán bộ rèn luyện, trưởng thành trong thực tiễn; nâng cao chất lượng công tác lựa chọn, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ. Cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài trong một số ngành, lĩnh vực được quy định cụ thể hơn; vai trò, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong xây dựng, phát triển đội ngũ nhân tài tiếp tục được tăng cường.

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr 43.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 114.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 114.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 504.