50 năm qua, thắng lợi của Tổng tuyển cử bầu Quốc hội ngày 25/4/1976 vẫn còn nguyên giá trị lịch sử: thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội chung khóa VI, Quốc hội chung của cả nước, tạo nền tảng pháp lý vững chắc phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới
Vì sao phải thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước sạch bóng quân xâm lược, miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Tuy nhiên, về mặt hành chính, vẫn tồn tại hai chính quyền khác nhau ở hai miền: Miền Bắc: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ở mỗi miền Nam, Bắc lại có một hình thức tổ chức Nhà nước khác nhau. Ở miền Bắc, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chính quyền các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Ở miền Nam có Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Ủy ban nhân dân cách mạng ở địa phương.
Sau khi đất nước thống nhất, nguyện vọng của nhân dân hai miền Nam, Bắc là cơ quan lập pháp, hành pháp và cả hệ thống chính trị sớm được thống nhất. Sau thắng lợi quân sự năm 1975, cuộc bầu cử này hoàn tất quá trình thống nhất đất nước về phương diện tổ chức, bộ máy nhà nước, xóa bỏ sự chia cắt, hợp nhất các cơ quan nhà nước hai miền Bắc - Nam.
Để thực hiện mục tiêu đó, ngày 15 đến ngày 21/11/1975, tại thành phố Sài Gòn, đại biểu nhân dân hai miền Nam - Bắc đã tổ chức Hội nghị Hiệp thương chính trị.
Hội nghị nhấn mạnh “Cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và chủ nghĩa xã hội, Quốc hội đó sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất”[1]. Hội nghị đề ra chủ trương và kế hoạch sớm thống nhất đất nước.

Nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn cổ động bầu cử Quốc hội khóa VI (Ảnh tư liệu)
Trên cơ sở thành công của Hội nghị Hiệp thương chính trị, ngày 03/01/1976, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 228-CT/TW “về việc lãnh đạo cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cả nước”, xác định rõ những nguyên tắc của cuộc bầu cử. Chỉ thị nêu rõ cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất “sẽ được tiến hành trong cả nước cùng một ngày, theo những nguyên tắc thật sự dân chủ: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những nguyên tắc ấy sẽ được vận dụng vào miền Nam cho thích hợp với điều kiện cụ thể của miền Nam”[2].
Ở Miền Bắc, cơ quan chủ trì bầu cử là Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miền Nam, cơ quan chủ trì bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ. Ở mỗi miền, cơ quan chủ trì cuộc bầu cử có quyền và trách nhiệm cử ra Hội đồng Bầu cử miền để phụ trách việc bầu cử của miền.
Riêng tỉnh Bình - Trị - Thiên có một phần ở miền Bắc, một phần ở miền Nam nên cả hai miền cùng phụ trách dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bầu cử toàn quốc. Những tỉnh, thành phố lớn, đông dân được bầu nhiều đại biểu thì có thể chia thành nhiều khu vực bầu cử.
Tổng số đại biểu Quốc hội cả nước được Hội đồng Bầu cử toàn quốc ấn định là không quá 500 người. Các tỉnh miền Nam đã tiến hành điều tra dân số gấp để thiết thực phục vụ cho bầu cử bảo đảm chính xác, công bằng, đồng thời phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch nhà nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng thống nhất việc thành lập Hội đồng bầu cử toàn quốc với số đại biểu ngang nhau của mỗi miền. Hội đồng bầu cử toàn quốc gồm 22 đại biểu. Mỗi miền cử 11 đại biểu, trong Hội đồng có 1 Chủ tịch và một Phó Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng bầu cử: Trường Chinh, Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử: Phạm Hùng.
Hội đồng bầu cử toàn quốc có nhiệm vụ: Hướng dẫn việc tổ chức bầu cử trong phạm vi cả nước và trực tiếp ở đơn vị bầu cử Bình Trị Thiên; giám sát cuộc bỏ phiếu trong cả nước; tổng kết công tác bầu cử; tuyên bố kết quả cuộc Tổng tuyển cử; cấp giấy chứng nhận cho các đại biểu trúng cử; báo cáo kết quả bầu cử trước Quốc hội.
Ngoài Hội đồng bầu cử toàn quốc, ở mỗi miền đã thành lập Hội đồng bầu cử riêng: Ở miền Bắc, cơ quan chủ trì bầu cử là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở miền Nam, cơ quan chủ trì bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hội đồng bầu cử mỗi miền có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thi hành luật lệ bầu cử; xét và giải quyết những khiếu nại về công tác bầu cử; tiếp nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các đơn vị bầu cử gửi đến trước khi gửi Hội đồng bầu cử toàn quốc.
Ngày 20/1/1976, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định ngày 25/4/1976 Tổng tuyển cử Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất[3].
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Ủy ban thường vụ Mặt trận Tổ quốc họp Hội nghị thống nhất các đơn vị bầu cử. Hội đồng nhất trí: Đơn vị bầu cử là tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh là một khu vực bầu cử trong đơn vị bầu cử Bình Trị Thiên[4]
Khẳng định quyền làm chủ và sức mạnh vĩ đại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Ngày chủ nhật, ngày 25/4/1976 thực sự trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc. Hơn 23 triệu cử tri (đạt tỷ lệ gần 99%) nô nức tham gia bỏ phiếu, thể hiện ý chí thống nhất, niềm tin vào Đảng và quyền làm chủ của người dân trên cả nước.
Tổng tuyển cử được tiến hành thật sự dân chủ, theo đúng luật định. Không khí tại các điểm bỏ phiếu: Từ 7 giờ sáng, cử tri đã tấp nập đến các hòm phiếu. Người dân đi bầu trong trang phục chỉnh tề, tinh thần phấn khởi. Hình ảnh các cụ già cao tuổi, các chức sắc tôn giáo và thanh niên lần đầu đi bầu cử đã tạo nên một bức tranh đại đoàn kết dân tộc rực rỡ. Hơn 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước đã nô nức thực hiện quyền công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam thống nhất.
Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt. Tỉ lệ cử tri đi bầu: Trên toàn quốc, tỉ lệ cử tri đi bầu đạt mức kỷ lục, trung bình trên 98,77%. Tại nhiều địa phương ở cả miền Bắc và miền Nam, tỉ lệ này xấp xỉ 100%. Hà Nội là 99, 82%; thành phố Sài Gòn - Gia Định (sau đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh) đạt 98,24%. Đặc biệt có nhiều xã, huyện, thị, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu. Cử tri đã lựa chọn và bầu đủ 492 đại biểu trong vòng đầu, không nơi nào phải bầu lại hoặc bầu thêm. Kết quả cụ thể như sau:
- Tổng số đơn vị và khu vực bầu cử quy định là: 80; Tổng số người ứng cử là: 605; Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu : 492.
- Tỷ lệ cử tri đi bầu trong cả nước đạt 98% cử tri đi bỏ phiếu, trong đó miền Bắc đạt: 99,36%; miền Nam đạt: 98,59%[5].
- Tỷ lệ số phiếu hợp lệ so với tổng số phiếu bầu là: 99,12%
- Tổng số đại biểu trúng cử là 492[6]
Trong tổng số đại biểu trúng cử, công nhân chiếm 16,26%, nông dân 20,33%, thợ thủ công 1,22%, cán bộ chính trị 28,66%, quân nhân cách mạng 10,97%, trí thức 18,50%, nhân sĩ dân chủ và tôn giáo 4,06%, đại biểu nữ 26,21%, đại biểu các dân tộc thiểu số 14,28%[7].
Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 là thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường tiến tới hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Thành phần của đại biểu Quốc hội được cử tri lựa chọn đã phản ánh đậm nét hình ảnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI (24/6-02/7/1976) (Ảnh tư liệu)
Xây dựng cơ quan quyền lực cao nhất, mở ra giai đoạn cách mạng mới
Ngày 24/6/1976, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, khẳng định “Kỳ họp Quốc hội lần này là một cái mốc trong lịch sử phát triển của Nhà nước ta. Từ mấy tháng nay, công nhân, nông dân, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân khác trong cả nước đã phát động phong trào thi đua sôi nổi lấy thành tích chào mừng Quốc hội chung cả nước. Điều đó chứng tỏ nhân dân ta nhiệt liệt hoan nghênh Quốc hội mới và đặt nhiều hy vọng vào Quốc hội”[8].
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI là kỳ họp hoàn thành thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Đây là một sự kiện cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị của nước Việt Nam, mở ra một giai đoạn nhân dân ta bắt tay vào sự nghiệp xây dựng trên Tổ quốc ta một xã hội đẹp nhất trong lịch sử của dân tộc, đưa Tổ quốc ta tiến lên từng bước để thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”...
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI bầu: Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm 21 thành viên chính thức và 2 thành viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh; Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng. Quốc hội khóa VI đưa ra những quyết định lịch sử: Đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Thủ đô là Hà Nội; Đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định Quốc kỳ: Cờ đỏ sao vàng; Quốc huy như Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; sửa lại tên trong quốc huy; Quốc ca: Tiến quân ca[9]
Thắng lợi Tổng tuyển cử năm 1976 trên phạm vi cả nước khẳng định ý chí sắt đá của toàn dân quyết tâm khắc phục khó khăn, xây dựng thành công nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.
Tổng tuyển cử năm 1976 là lời khẳng định đanh thép với thế giới về nền độc lập và sự thống nhất toàn vẹn của Việt Nam. Khẳng định sức mạnh đoàn kết Nam - Bắc một nhà. Tổng tuyển cử năm 1976 khẳng định chân lý bất diệt: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
50 năm đã trôi qua, thắng lợi Tổng tuyển cử năm 1976 vẫn mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
[1] Thông báo của Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc ngày 21/11/1975. Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Biên niên sự kiện lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 5 ( 5/1975-11/1986), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.25-26.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, 2004, t.37, tr. 17-27.
[3] Báo Nhân dân, ngày 20/1/1976.
[4] Báo Nhân dân, ngày 21/1/1976.
[5] Báo Nhân dân, ngày 22/4/1976.
[6] Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 15/5/1976.
[7] Văn kiện Quốc hội toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.5, tr. 17.
[8] Văn kiện Quốc hội toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,Hà Nội,2009, t. 5, tr. 67.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr.112-118.
