Ngày 28/01/1941, sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc và lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi khởi đầu trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong không gian núi rừng hoang sơ và điều kiện sinh hoạt hết sức thiếu thốn, Người nhanh chóng hòa mình vào thiên nhiên và nhịp sống lao động thường nhật của nhân dân địa phương. Từ lao động giản dị, tự lực, chân thành trong sinh hoạt hằng ngày, Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên mối quan hệ gắn bó tự nhiên, bền chặt giữa Người với đồng bào các dân tộc Cao Bằng, đặt nền móng cho niềm tin của nhân dân đối với cách mạng ngay từ những ngày đầu

Hòa mình vào thiên nhiên và con người Cao Bằng - nền móng của bài học lấy dân làm gốc

Vào thời điểm những năm 1940 - 1941, đời sống người dân Pác Bó vô cùng cực khổ, lương thực thiếu thốn, nguồn lương thực chủ yếu chỉ là ngô. Rất nhiều gia đình thiếu đói, không đủ ăn, những ngày giáp hạt phải vào rừng để đào củ mài, hái rau rừng để sống qua ngày…

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện phương châm 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với nhân dân các dân tộc Pác Bó. Nguyễn Ái Quốc không tạo cho mình khoảng cách với đồng bào, không sống tách biệt hay dựa vào sự che chở thụ động của quần chúng, mà chủ động hòa nhập vào đời sống thường nhật của nhân dân Cao Bằng.

Người ở trong hang Pác Bó, ăn uống đạm bạc với mèn mén, rau rừng, nước suối; cùng lao động, sinh hoạt như một người dân địa phương,....Những điều tưởng như chỉ là sinh hoạt đơn sơ, nhưng lại phản chiếu phẩm chất cao quý: gần dân, yêu lao động, sống hòa mình với thiên nhiên và cộng đồng.

Chính từ lao động thực tiễn, Người càng thấu hiểu nỗi gian lao của Nhân dân lao động, càng hun đúc quyết tâm giải phóng dân tộc. Hình ảnh “ông Ké” dịch sử Đảng bên bàn đá chông chênh, gánh gạo qua suối, hái măng trong rừng, ... trở thành biểu tượng không chỉ của một nhà cách mạng lỗi lạc mà còn là hình ảnh thuần khiết của một người lao động chân chính.

Trong môi trường núi rừng Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc sống chan hòa với thiên nhiên, coi thiên nhiên vừa là bạn, vừa là điều kiện bảo vệ cách mạng. Núi Các Mác, suối Lênin không chỉ là những địa danh mang ý nghĩa biểu tượng, mà còn phản ánh một tư duy sâu sắc: cách mạng Việt Nam phải gắn bó với thực tiễn đất nước, con người và điều kiện cụ thể của dân tộc mình. Việc đặt tên cho núi, suối bằng những biểu tượng của học thuyết cách mạng vô sản cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa lý luận cách mạng hiện đại với không gian văn hóa - lịch sử bản địa.

Bác Hồ thăm mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng, ngày 15/8/1958 (Ảnh tư liệu)

Quan trọng hơn, thông qua lao động và sinh hoạt hằng ngày, Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân trong lịch sử, nên khi trở về nước, Người xác định phải “dựa vào dân”, lấy dân làm gốc, có dân là có tất cả, quan tâm, chăm lo đời sống nhân dân, yêu dân, tin tưởng vào dân. Người học tiếng địa phương, tìm hiểu phong tục, tập quán, cách nghĩ, cách sống của đồng bào; kiên nhẫn giải thích, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng bằng những câu chuyện giản dị, dễ hiểu, sát với đời sống.

Thời gian sống và làm việc tại Cao Bằng, Người luôn giản dị trong bộ áo chàm của đồng bào Nùng, Người gần gũi với Nhân dân một cách tự nhiên, gần gũi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Từ trang phục đến lời nói, việc làm. Lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng... Bác hòa hợp với tất cả mọi người. Không thấy một nét gì khác lạ, cách biệt, ở một người vốn là đại diện của quốc tế cộng sản, đã từng dự Đại hội Tua, từng tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới”[1].

Dù bận trăm công nghìn việc, Người luôn chú ý đến đời sống của những người dân bình thường nhất, như dạy nhân dân cách phòng bệnh, phân công người lớn cứ chiều đến phải đun nước nóng tắm rửa cho các cháu nhỏ,…Bản thân Người vác máng đạp lúa ra chỗ nguồn nước múc đầy nước, tắm cho các cháu nhỏ, giặt quần áo cho chúng, khi về “Ông Ké” bế đứa nhỏ nhất. Người luôn ân cần hỏi thăm đến đời sống và sức khỏe của các cụ già, bà lão và con cháu.

Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Cao Bằng hết sức chân thành, gần gũi, không chỉ là tình cảm của vị lãnh tụ đối với đồng bào cả nước mà còn là sự tri ân đối với đồng bào đã đùm bọc, chở che, bảo vệ Đảng, bảo vệ Người trong những tháng ngày gian lao, vất vả. Người khẳng định trong sự nghiệp chung của cách mạng Việt Nam, luôn có sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc Cao Bằng. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những lời đầy xúc động: “Tôi không bao giờ quên được trong những ngày gian nan cực khổ đó,….mặc dầu Tây và Nhật thẳng tay khủng bố, nó đốt làng, nó phá nhà, nó bắt người, nhưng đồng bào vẫn kiên quyết giúp đỡ cách mệnh. Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo cho đến anh em Hoa kiều người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo, có những đồng bào nhịn ăn, nhịn mặc, bán trâu, bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh. Thật là quý hóa vô cùng”.

Nhân dân Cao Bằng không chỉ che chở, nuôi dưỡng Người bằng vật chất, mà còn bằng niềm tin, sự kính trọng và tình cảm ruột thịt. Đồng bào gọi Người bằng những cái tên thân thương như “Ông Ké”, “Ké Thu”, “Già Thu” – những cách xưng hô thể hiện sự gắn bó tự nhiên, không khoảng cách giữa lãnh tụ và nhân dân. Chính từ sự hòa mình ấy, Nguyễn Ái Quốc đã tạo dựng được nền tảng xã hội – chính trị đặc biệt quan trọng: lòng dân. Trong điều kiện cách mạng còn non trẻ, lực lượng còn mỏng, vũ khí chưa có, thì lòng dân chính là “pháo đài” vững chắc nhất. Cao Bằng không chỉ là nơi Người ở, mà trở thành không gian chính trị – xã hội tin cậy, nơi nhân dân sẵn sàng bảo vệ, nuôi giấu cán bộ, làm tai mắt cho cách mạng. Đây là tiền đề trực tiếp để Cao Bằng nhanh chóng phát triển thành căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước.

Nơi hình thành quyết sách lịch sử đưa dân tộc đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám

Sống và làm việc tại hang Cốc Bó, nơi chỉ có cháo bẹ, rau măng, ánh đèn dầu yếu ớt,...song Người luôn thể hiện niềm tin lạc quan, tinh thần lao động bất khuất giữa gian khổ, ngày đêm miệt mài xây dựng nền móng cho một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân như dịch tài liệu lý luận, viết sách, viết báo, soạn thảo văn kiện, chủ trì hội họp,...điển hình như Chính sách Việt Minh (1941), Lịch sử nước ta (1942),...

Từ tháng 8/1941, Người biên soạn nội dung, trực tiếp tổ chức việc in ấn, phân phối báo “Việt Nam độc lập”, bằng các nội dung phong phú thơ ca, câu vè dễ hiểu, tờ báo đã được phát hành rộng khắp, tuyên truyền tinh thần yêu nước cho đồng bào.

Bác Hồ về thăm Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng năm 1961 (Ảnh tư liệu)

Bên cạnh đó, Người thường xuyên tổ chức lớp huấn luyện chính trị, quân sự cho cán bộ nòng cốt khắp các tỉnh Cao – Bắc – Lạng. Viết và phổ biến "Cách đánh du kích" (1941), hướng dẫn phương pháp chiến tranh nhân dân, thành lập Đội du kích địa phương,...

Người trực tiếp lãnh đạo, định hướng và đưa ra những quyết sách có ý nghĩa bước ngoặt đối với vận mệnh dân tộc, mà đỉnh cao là Hội nghị Trung ương tháng 5/1941. Bối cảnh lịch sử lúc này hết sức phức tạp. Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra ác liệt; phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, tạo nên tình thế “một cổ hai tròng” đối với nhân dân Việt Nam. Trước tình hình đó, cách mạng Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh chiến lược, xác định đúng kẻ thù, nhiệm vụ và phương thức đấu tranh. Chính trong hoàn cảnh ấy, sự trở về của Nguyễn Ái Quốc và việc đặt cơ quan chỉ đạo tại Cao Bằng mang ý nghĩa quyết định.

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chuẩn bị nội dung và chủ trì Hội nghị Trung ương tháng 5/1941. Hội nghị đã đưa ra những quyết định mang tính lịch sử: xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của cách mạng Việt Nam, tạm gác các nhiệm vụ cách mạng khác để tập trung toàn lực cho mục tiêu độc lập dân tộc; quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu nước; xác định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và đây chính là chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.

Từ đây, đường lối giải phóng dân tộc được xác lập rõ ràng; lực lượng cách mạng được tổ chức lại theo hướng tập trung, thống nhất; phong trào cách mạng từng bước lan rộng từ Cao Bằng ra toàn khu Việt Bắc, tiến tới cả nước.

Những quyết sách được hình thành tại Cao Bằng trong giai đoạn 1940–1941 không chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhãn quan chính trị sắc bén của Nguyễn Ái Quốc.

Những ngày đầu Nguyễn Ái Quốc ở Pác Bó là quãng thời gian ngắn về mặt lịch sử, nhưng mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam. Tại đây, Người vừa hòa mình vào đời sống lao động giản dị của đồng bào các dân tộc Cao Bằng, xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhân dân; vừa trực tiếp hoạch định những quyết sách chiến lược, đặt nền móng cho thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chính từ Pác Bó – Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã tìm thấy con đường đúng đắn, vững chắc để đi tới độc lập, tự do cho dân tộc.