Thực tiễn Bắc Ninh cho thấy, cải cách hành chính không chỉ dừng ở cải tiến thủ tục, mà đang trở thành động lực nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, thúc đẩy chuyển đổi số và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Những con số biết nói và chuyển biến thực chất trong quản trị

Thực tiễn Bắc Ninh những năm gần đây cho thấy một bức tranh cải cách hành chính không dừng lại ở cải tiến kỹ thuật, mà đang tạo ra những chuyển biến thực chất trong phương thức quản lý và phục vụ. Trên phương diện thể chế, trong năm 2025, tỉnh đã ban hành 210 văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm bao quát các lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao tính chủ động trong điều hành; thể hiện rõ năng lực cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn địa phương.

Trong cải cách thủ tục hành chính, Bắc Ninh đã thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết đối với 742 thủ tục hành chính, với mức giảm trung bình 34,3%. Đặc biệt, 100% (2.176/2.176) thủ tục hành chính được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục thuận tiện hơn, không bị ràng buộc bởi nơi cư trú.

Hiệu quả giải quyết hồ sơ tại Bắc Ninh đạt mức rất cao. Năm 2025, toàn tỉnh tiếp nhận và xử lý 1.155.106 hồ sơ, trong đó tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 99,61% - phản ánh năng lực tổ chức thực hiện, kỷ luật hành chính và trách nhiệm công vụ của chính quyền và tập thể cán bộ, đảng viên trên địa bàn tỉnh.

Quá trình chuyển đổi số trong cải cách hành chính cũng có bước tiến rõ rệt. Tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 94,84%, đồng thời nhiều thủ tục đã thực hiện thay thế giấy tờ bằng khai thác thông tin điện tử; thể hiện quá trình chuyển từ “xử lý hồ sơ” sang “quản lý thông tin” tại Bắc Ninh.

Bên cạnh đó, cơ chế tương tác với người dân được mở rộng. Trong năm 2025, tỉnh đã tiếp nhận và xử lý 1.343 phản ánh, kiến nghị, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị đối thoại với doanh nghiệp, công nhân, thanh niên. Đây không chỉ là kênh tiếp nhận thông tin, mà còn là biểu hiện của quản trị minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Đặc biệt, theo đánh giá từ Bộ chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp, tỉnh Bắc Ninh đạt 96,83/100 điểm, xếp hạng số 1 toàn quốc; trong đó, dịch vụ công trực tuyến và thanh toán trực tuyến đạt 100%, mức độ hài lòng đạt 99,2%. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số.

Những kết quả này là minh chứng cho nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và tập thể cán bộ, đảng viên tỉnh Bắc Ninh tronng quán triệt và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách hành chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, xây dựng chính quyền kiến tạo phục vụ.

Ảnh: Trung tâm phục vụ Hành chính công tỉnh Bắc Ninh (Nguồn: Báo Bắc Ninh)

Những vấn đề đặt ra từ cải cách hành chính đến yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị

Trong quá trình cải cách hành chính tại Bắc Ninh thời gian qua cũng đã bộc lộ những vấn đề mang tính bản chất, phản ánh yêu cầu phải chuyển từ cải cách hành chính sang nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ nhất, hiệu quả cải cách hành chính còn thiên về “đúng quy trình”, chưa chuyển hóa đầy đủ thành “phục vụ người dân”. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt 99,61%, mức độ hài lòng đạt trên 99% cho thấy hệ thống thủ tục hành chính đã được chuẩn hóa và vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, các chỉ số này chủ yếu phản ánh chất lượng ở khâu thực hiện, trong khi việc lấy người dân làm trung tâm chưa được thể hiện một cách xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng và ban hành chính sách. Nói cách khác, cải cách hành chính tại Bắc Ninh mới tập trung nhiều vào “làm đúng”, nhưng chưa thực sự chuyển mạnh sang “làm tốt” theo nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, tỷ lệ số hóa đã đạt quy mô lớn, nhưng chưa chuyển thành năng lực quản trị dựa trên dữ liệu. Với 94,84% hồ sơ được số hóa, 100% thủ tục hành chính thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính, Bắc Ninh đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận về chuyển đổi số trong cải cách hành chính. Tuy nhiên, phần lớn thông tin số hiện vẫn được sử dụng để xử lý thủ tục, chưa trở thành công cụ phục vụ phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Điều này cho thấy, quá trình chuyển đổi mới dừng ở “số hóa quy trình”, chưa đạt đến “quản trị dựa trên thông tin” - yếu tố cốt lõi của quản trị công hiện đại.

Thứ ba, phân cấp, tinh gọn bộ máy tạo hiệu quả rõ rệt, nhưng đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát quyền lực. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm mạnh đầu mối và tổ chức lại từ 313 đơn vị hành chính cấp xã xuống còn 99 đơn vị đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền. Tuy nhiên, khi quyền hạn được trao nhiều hơn cho cấp cơ sở, nếu không đi kèm với cơ chế kiểm soát phù hợp, sẽ tiềm ẩn nguy cơ thiếu minh bạch, giảm hiệu quả giám sát. Thực tế cho thấy, cơ chế kiểm soát quyền lực hiện vẫn chủ yếu dựa trên phương thức hành chính truyền thống, chưa theo kịp yêu cầu của quản trị hiện đại.

Thứ tư, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi.
Việc phải thường xuyên tổ chức tập huấn, thành lập các tổ hỗ trợ triển khai cải cách hành chính và chuyển đổi số cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa yêu cầu đổi mới và năng lực thực thi. Đặc biệt ở cấp cơ sở, kỹ năng sử dụng công nghệ, khả năng xử lý công việc trong môi trường số và tư duy quản trị hiện đại vẫn còn hạn chế. Đây là “điểm nghẽn” có tính quyết định đối với chất lượng cải cách hành chính trong giai đoạn tới.

Thứ năm, sự tham gia của người dân và xã hội còn dừng ở mức phản hồi, chưa trở thành yếu tố cấu thành của quản trị. Năm 2025, tỉnh Bắc Ninh đã tiếp nhận và xử lý 1.343 phản ánh, kiến nghị, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị đối thoại với doanh nghiệp và các nhóm xã hội. Tuy nhiên, các hoạt động này chủ yếu vẫn theo hướng “tiếp nhận - xử lý”, chưa hình thành cơ chế để người dân tham gia thực chất vào quá trình xây dựng chính sách. Điều này cho thấy, tương tác giữa Nhà nước và xã hội tuy đã được mở rộng, nhưng chưa đạt đến mức “đồng kiến tạo” - một đặc trưng quan trọng của quản trị công hiện đại.

Ảnh: Người dân đến thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Võ Cường (Nguồn: Tạp chí Thương hiệu và công luận)

Giải pháp thúc đẩy quản trị công hiện đại gắn với củng cố niềm tin của Nhân dân trong thời gian tới

Cải cách hành chính ở Bắc Ninh đã đạt được những kết quả quan trọng và tạo nền tảng cho đổi mới quản trị. Tuy nhiên, các yếu tố của quản trị công hiện đại mới ở mức bước đầu, chưa đồng bộ và chưa hình thành một phương thức quản trị hoàn chỉnh. Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay không phải là thay đổi hướng đi, mà là tiếp tục nâng cấp cải cách hành chính theo hướng nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy cải cách theo hướng lấy niềm tin của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt. Cải cách hành chính trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở đơn giản hóa thủ tục, mà phải hướng tới tạo dựng niềm tin xã hội thông qua chất lượng phục vụ. Mỗi quyết định hành chính, mỗi quy trình xử lý công việc cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ “đúng quy định”, mà còn ở mức độ “hợp lý, thuận tiện, minh bạch” đối với người dân và doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi phải chuyển từ tư duy “cơ quan quản lý làm đúng chức năng” sang “bộ máy công quyền phục vụ người dân”. Việc lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo không chỉ dừng ở khảo sát định lượng, mà phải trở thành tiêu chí đánh giá thực chất hiệu quả công vụ.

Hai là, chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên thông tin và dữ liệu. Thực tiễn Bắc Ninh cho thấy, số hóa đã đạt được kết quả rõ nét, nhưng nếu chỉ dừng ở điện tử hóa thủ tục thì chưa tạo ra bước đột phá về quản trị. Vấn đề cốt lõi hiện nay là phải biến dữ liệu thành công cụ điều hành. Cần tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, kết nối liên thông giữa các ngành, các cấp; đồng thời hoàn thiện thể chế về quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu. Trên cơ sở đó, từng bước chuyển từ cách điều hành dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên phân tích thông tin, nâng cao năng lực dự báo và ra quyết định. Đây chính là bước chuyển quan trọng từ “hành chính điện tử” sang “quản trị số” - yếu tố cốt lõi của quản trị công hiện đại.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực gắn với phân cấp, phân quyền. Quá trình tinh gọn bộ máy và phân cấp mạnh mẽ là xu hướng tất yếu để nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, khi quyền lực được trao nhiều hơn cho địa phương và cơ sở, yêu cầu kiểm soát quyền lực cũng phải tương ứng. Cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng minh bạch, công khai và có thể giám sát. Đặc biệt, phải gắn trách nhiệm giải trình với từng vị trí công vụ, bảo đảm mọi quyết định hành chính đều có thể được kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, qua đó tạo cơ chế kiểm soát quyền lực từ nhiều chiều, hạn chế nguy cơ lạm quyền, nhũng nhiễu.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu quản trị hiện đại. Con người là yếu tố quyết định thành công của cải cách. Thực tiễn cho thấy, khoảng cách giữa yêu cầu chuyển đổi và năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ vẫn là một “điểm nghẽn”. Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng nâng cao năng lực số, khả năng sử dụng công nghệ; phát triển tư duy quản trị, khả năng xử lý tình huống; tăng cường đạo đức công vụ, ý thức phục vụ Nhân dân đồng thời, cần có cơ chế đánh giá, sàng lọc, bố trí cán bộ dựa trên kết quả thực thi nhiệm vụ, gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả công việc.

Năm là, mở rộng sự tham gia thực chất của người dân và xã hội trong quản lý nhà nước. Quản trị công hiện đại không chỉ là hoạt động của bộ máy nhà nước, mà là sự tương tác giữa nhà nước và xã hội. Vì vậy, cần mở rộng các kênh để người dân tham gia sâu hơn vào quá trình quản lý. Không chỉ dừng ở tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, cần thiết lập các cơ chế tham vấn chính sách, lấy ý kiến rộng rãi trước khi ban hành các quyết định quan trọng. Đồng thời, tăng cường công khai thông tin để người dân có điều kiện giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Việc mở rộng sự tham gia của người dân không chỉ nâng cao chất lượng chính sách, mà còn góp phần củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Sáu là, đẩy mạnh truyền thông chính sách, lan tỏa những kết quả cải cách hành chính. Thực tế cho thấy, nhiều kết quả cải cách hành chính chưa được truyền tải đầy đủ đến người dân, dẫn đến còn khoảng cách giữa “kết quả thực tế” và “nhận thức xã hội”. Do đó, cần đẩy mạnh truyền thông chính sách theo hướng công khai, minh bạch các kết quả cải cách; chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; lan tỏa các mô hình tốt, cách làm hiệu quả. Đây không chỉ là nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, mà còn là giải pháp quan trọng để củng cố niềm tin của Nhân dân, đồng thời góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về nền hành chính và chế độ.

Thực tiễn tỉnh Bắc Ninh cho thấy, cải cách hành chính khi được triển khai thực chất không chỉ dừng ở cải tiến thủ tục, mà đang trở thành động lực nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và định hình rõ hơn vai trò phục vụ của bộ máy công quyền. Từ những kết quả cụ thể, minh bạch, niềm tin của Nhân dân đối với các chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố một cách trực tiếp và bền vững. Mỗi thủ tục được rút ngắn, mỗi hồ sơ được giải quyết đúng hạn, mỗi phản ánh của người dân được xử lý minh bạch không chỉ là kết quả cải cách hành chính, mà còn là minh chứng sinh động củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; mà chính niềm tin ấy là nền tảng xã hội vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới./.