Quốc hội Khóa I dù diễn ra trong bối cảnh tình hình đất nước rất nhiều khó khăn, song từ khâu tổ chức bầu cử đến việc triệu tập kỳ họp, tổ chức chính phủ đã được tiến hành rất bài bản, khoa học với những câu chuyện đầy thú vị và để lại những giá trị vượt thời gian
Đây là khóa Quốc hội kéo dài 16 năm, từ năm 1946 đến tháng 5/1960. Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946 vào ngày 09/11/1946 với nhiều nội dung được cho là tiến bộ vượt thời đại.
Chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội gần đây đã trở thành quen thuộc với cử tri cả nước, song điều đặc biệt nhất, ngay tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã có chất vấn và trả lời chất vấn.
Kỳ họp thứ 2 quốc hội khóa I khai mạc ngày 23/10/1946 vấn chất vấn đã được đặt ra sôi nổi, quyết liệt, thẳng thắn. Trên 80 câu chất vấn đã được các đại biểu quốc hội nêu ra trên tinh thần dân chủ, cởi mở và minh bạch.
Trưởng ban Thường trực Quốc hội là cụ Nguyễn Văn Tố đã đứng trên trả lời chất vấn. Các thành viên Chính phủ khác như Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng; Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Trần Đăng Khoa (Đảng Dân Chủ); Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng (Việt Quốc); Chủ tịch Ủy viên Quân sự hội Võ Nguyên Giáp (Việt Minh); Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe (Đảng Dân Chủ); Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến (Việt Minh) và cả Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời chất vấn.

Toàn cảnh Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, ngày 02/3/1946 (Ảnh tư liệu)
Sau khi các Bộ trưởng trả lời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ trả lời những vấn đề còn chưa rõ. Riêng về câu hỏi về chống tham nhũng, trong đó có liên quan đến vấn đề có Bộ trưởng trong Chính phủ lợi dụng chức vụ để buôn lậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói kỹ và nhấn mạnh: “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở Ủy ban hiện đông và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ cũng hết sức làm gương và nêu gương. Nếu làm gương không xong thì dùng pháp luật để trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và trị cho kỳ hết”.
Đặc biệt, có những chất vấn phải nói là vô cùng “gai góc” nhưng Hồ Chủ Tịch đã giải đáp thỏa đáng.
Trả lời chất vấn của đại biểu Trần Huy Liệu (đại biểu tỉnh Nam Định) về việc Tạm ước 14/9 là “bất bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích: “Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ, thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp không thành thật thi hành Tạm ước thì ta vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất...”.
Đánh giá về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chính phủ hiện giờ thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng, lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà Quốc hội đã đặt những câu hỏi thật già dặn, thắc mắc khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mạng của nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập".
Trong phát biểu bế mạc kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I, ngày 09/11/1946, Trưởng đoàn Chủ tịch quốc hội Tôn Đức Thắng khẳng định: “Chúng ta đã chất vấn Chính phủ. Các ngài chắc cũng như chúng tôi sẽ không bao giờ quên được cái cảnh tượng đã diễn ra trong phòng này đêm hôm 31/10, cảnh tượng chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam, một cảnh tượng chỉ có một cuộc cách mạng quét sạch hết bóng tối cũ của chế độ thực dân và phong kiến chuyên chế mới đưa tới được nhân dân trong nước bằng miệng các người thay mặt đã tự do đứng trên diễn đàn này lên tiếng đòi hỏi chính phủ phải trả lời về những công việc nội chính và ngoại giao đã làm. Cái quyền tự do ấy, dân tộc chúng ta đã phải mua đắt bằng xương máu của bao nhiêu cuộc tranh đấu, nên chúng ta nhất định thi hành nó một cách nghiêm minh”.
Gần đây, từ Quốc hội khóa XIV, các vị lãnh đạo của Nhà nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao được bầu đã tuyên thệ nhậm chức trước Quốc hội, tức là trước đại biểu của dân trong không khí trang trọng và thiêng liêng.
Thế nhưng, trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I ngày 02/3/ 1946 đã từng diễn ra lễ tuyên thệ thiêng liêng này.
Phiên họp lần thứ nhất của Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa long trọng khai mạc ngày 02/3/1946. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I là kỳ họp ngắn nhất trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì do không khí khẩn trương của chiến tranh khi ấy nên thời gian họp chỉ diễn ra trong 4 tiếng đồng hồ. Tuy thời gian hết sức khẩn trương trong tình cảnh “nước sôi, lửa bỏng” khi ấy nhưng nghi lễ tuyên thệ của Chính phủ đã được cử hành hết long trọng trong không khí cực kỳ trang nghiêm và thiêng liêng.

Báo Việt Nam Độc lập – số đặc biệt về Tổng tuyển cử năm 1946 (Ảnh tư liệu)
Hồi ký của cụ Vũ Đình Hòe, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Chính phủ Việt Nam lâm thời (tháng 8/1945) và Chính phủ Liên hiệp Việt Nam lâm thời (01/01/1946), nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chính phủ liên hiệp kháng chiến (tức Chính phủ được lập ra trong kỳ họp này) cho biết: “Sau khi Quốc hội giao cho Cụ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ. 10g 10 phút buổi họp tiếp tục. Cụ Hồ Chí Minh và theo sau là các Bộ trưởng tiến vào Hội trường ra mắt Quốc hội. Cụ Hồ Chí Minh giới thiệu từng Bộ trưởng bằng cách đọc tên từng người. Sau đó Cụ Hồ báo cáo: “Thế là Chính phủ kháng chiến đã thành lập và bây giờ tôi xin phép Quốc hội để cho Chính phủ, Cố vấn đoàn và kháng chiến ủy viên hội tuyên thệ nhậm chức”. Cụ Ngô Tử Hạ, Chủ tịch kỳ họp điều khiển phát biểu: “Xin Quốc hội đứng dậy để nhận lời tuyên thệ của Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Tối cao Cố vấn đoàn và Ủy viên Kháng chiến hội. Tất cả đều đứng cả dậy. Cụ Hồ đọc lời thề trước bàn thờ Tổ quốc”. Sau khi cụ Hồ đọc lời thề xong toàn thể các thành viên Chính phủ (bao gồm cả Tối cao cố vấn đoàn và Ủy viên kháng chiến hội (những cơ quan được lập ra lúc ấy) đều đồng thanh “Xin thề”.
Chủ tịch kỳ họp là Cụ Ngô Tử Hạ đã mời ông Nguyễn Đình Thi (cũng là đồng Chủ tịch kỳ họp) đọc lời chào mừng và long trọng tuyên bố: “Quốc dân sẽ luôn luôn ủng hộ Chính phủ trong công cuộc ấy. Chính phủ liên hiệp kháng chiến phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và toàn thể Quốc dân. Quốc hội thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam, chúc Chính phủ liên hiệp Kháng chiến vượt hết mọi trở lực và làm tròn nhiệm vụ. Việt Nam độc lập muôn năm”.
Tiếp đó, đoàn đại biểu nhân dân Thành phố Hà Nội và các đoàn thể cứu quốc và lần lượt đọc lời chúc mừng Chính phủ và Quốc hội.
Cụ Ngô Tử Hạ thay mặt Quốc hội cám ơn đoàn đại biểu nhân dân Thành phố Hà Nội và các đoàn thể cứu quốc.
Lời thề thiêng liêng của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I năm 1946 như một lời nhắc nhở thiêng liêng của lịch sử. Không khí thiêng liêng trầm mặc của lễ tuyên thệ nhậm chức ở Quốc hội khóa I năm 1946 sẽ tiếp tục là niềm tin, là sức mạnh, là nguồn cảm hứng cho những lễ tuyên thệ tới đây để các nhà lãnh đạo quốc gia, Chính phủ cam kết và thực hiện lời hứa trước nhân dân.
Các qui định, thể lệ bầu cử trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa I sau đó đã tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp tiếp theo như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và đặc biệt là trong Hiến pháp 2013. Kể từ sau Hiến pháp 1959, nhà nước ta đã ban hành nhiều Luật về Bầu cử đại biểu Quốc hội vào các năm 1960, 1964, 1980, 1997, 2001 (sửa đổi năm 2010) và 2015. Một trong những nguyên tắc và tư tưởng xuyên suốt từ hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013 là luôn tôn trọng quyền bầu cử, ứng cử của công dân không phân biệt trai, gái, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo; bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín… Điều 27, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”.

Chính phủ Liên hiệp kháng chiến ra mắt Quốc hội ngày 02/3/1946 (Ảnh tư liệu)
Thể chế hóa điều này, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (Luật Số: 85/2015/QH13 ngày 25/6/2015) đã qui định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 1). “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này” (Điều 2).
Như vậy có thể khẳng định rằng để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát huy quyền dân chủ của công dân, pháp luật về bầu cử đã quy định ngày càng rõ hơn về quyền tự ứng cử của công dân. Đây là tư tưởng thể hiện sự mở rộng dân chủ của xã hội và tiếp nối tinh thần của cuộc bầu cử Quốc hội khoá I.
Những giá trị, bài học mà cuộc bầu cử Quốc hội khóa I để lại vẫn còn nguyên vẹn với hôm nay, nhất là trong bối cảnh nước ta đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tới đây.
