Trả lời: 

         Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới”[1]. Việc xác định những nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược không chỉ thể hiện tư duy lý luận khoa học, tầm nhìn chiến lược về “tự chủ”, “tự cường” mà còn cho thấy quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững. Đại hội XIV thực sự là tiếng kèn hiệu triệu, khơi dậy niềm tin, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, đưa Việt Nam vững vàng tiến bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

         Đột phá chiến lược được hiểu như là một danh từ, là các khâu, vấn đề vừa mang tính đột phá, vừa mang tính chiến lược. Như vậy, các đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là các yếu tố mang tính “đột phá”, nghĩa là khi tác động vào các yếu tố này sẽ tạo ra sự chuyển biến, thay đổi mạnh mẽ, bước ngoặt theo chiều hướng tích cực và góp phần thực hiện thành công, nhanh chóng mục tiêu chiến lược của Đảng. Với ý nghĩa như vậy, trong từng giai đoạn phát triển, việc xác định “đúng” và “trúng” các đột phá chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến sự nghiệp xây dựng đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đây là cơ sở khoa học để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

         1. Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển

         Trong quá trình lãnh đạo đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn coi hoàn thiện thể chế phát triển là “đột phá của đột phá”, giữ vị trí trung tâm trong việc kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Theo đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ kiến tạo phát triển; phát triển kinh tế nhà nước thật sự đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới”[2].

         Từ việc làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta xác định đột phá; tác giả khái quát những thành tựu và hạn chế của thể chế phát triển. Từ đó, tác giả đề xuất một số nội dung, giải pháp cơ bản thực hiện đột phá về thể chế phát triển như: (1) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính khoa học, hiện đại và hiệu quả; (2) Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế giám sát, đánh giá độc lập; (3) Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách; (4) Phát huy vai trò năng động, sáng tạo của doanh nghiệp, địa phương và nhân dân.

         2. Đột phá về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao

         Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ theo đúng chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mó hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”[3].

         Từ việc làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta xác định đột phá; tác giả khái quát những thành tựu và hạn chế của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao trong thời gian qua. Từ đó, tác giả đề xuất một số nội dung, giải pháp cơ bản thực hiện đột phá về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao như: (1) Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nhân lực số và nhân lực chất lượng cao, nhất là các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, năng lượng tái tạo và quản trị công nghệ; (2) Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, gắn kết giữa học với hành, giữa nhà trường với doanh nghiệp và Nhà nước; (3) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển nhân lực; (4) Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ.

         3. Đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại có vai trò tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật cho tăng trưởng nhanh, bền vững, là điều kiện để phát huy hiệu quả của thể chế, nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ. Theo đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng văn hóa, giáo dục, thể thao”[4].

          Từ việc làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta xác định đột phá; tác giả khái quát những thành tựu và hạn chế của xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại. Từ đó, tác giả đề xuất một số nội dung, giải pháp cơ bản thực hiện đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại: (1) Xây dựng và triển khai chiến lược tổng thể về phát triển hạ tầng quốc gia giai đoạn 2026 - 2035, bảo đảm tính tích hợp giữa hạ tầng kinh tế - xã hội, số và năng lượng; (2) Đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng số và năng lượng xanh, lấy chuyển đổi số làm nền tảng cho quản lý, giám sát và điều phối hạ tầng; (3) Đổi mới cơ chế huy động vốn và phương thức đầu tư, khuyến khích hợp tác công - tư, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là từ các quỹ đầu tư xanh, trái phiếu xanh và tài chính khí hậu; (4) Bảo đảm quy hoạch hạ tầng đồng bộ với quy hoạch không gian phát triển và đô thị bền vững, tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, dữ liệu lớn trong quy hoạch, xây dựng và vận hành hạ tầng.

         Ba đột phá chiến lược được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện tư duy phát triển mới, toàn diện và hiện đại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Ba đột phá chiến lược có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ: “Thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo ra không gian và sức bật”, để khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 79.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr. 146 - 147.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr. 147.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr. 148.