
Đại hội XIV của Đảng (2026) mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Tầm vóc lịch sử dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có bề dày lịch sử hàng nghìn năm và có vị thế nổi bật ở khu vực Đông Nam Á. Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, dân tộc Việt Nam không chỉ tồn tại bền bỉ mà còn khẳng định được bản lĩnh, trí tuệ và sức sáng tạo của mình, để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình phát triển của khu vực. Việt Nam là minh chứng sinh động cho một dân tộc tuy lãnh thổ không rộng, nhưng luôn vươn lên mạnh mẽ bằng ý chí độc lập, tự cường và khả năng tổ chức xã hội cao, chặt chẽ.
Ngay từ buổi đầu dựng nước (khoảng thiên kỷ I trước công nguyên), cư dân Việt cổ đã sáng tạo ra nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, một trong những trung tâm văn minh lớn của Đông Nam Á cổ đại. Những trống đồng tinh xảo, hoa văn, họa tiết độc đáo còn tồn tại đến ngày nay không chỉ phản ánh kỹ thuật, trình độ luyện kim phát triển đến đỉnh cao mà còn phản ánh trình độ kinh tế - xã hội của cư dân Lạc Việt. Kinh thành Cổ Loa thời An Dương Vương (thế kỷ III trước công nguyên) của nhà nước Âu Lạc với thành lũy độc đáo và bề thế đã thể hiện tư duy sáng tạo, năng lực xây dựng, tổ chức quân sự của người Việt.

Trống đồng Đông Sơn - biểu tượng của nền văn minh, văn hóa Việt Nam.
Sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc đầy gian khổ, dân tộc Việt Nam vẫn giữ vững bản sắc văn hóa và ý chí tự chủ, để rồi lật đổ ách thống trị của ngoại bang, bước vào Kỷ nguyên độc lập bắt đầu từ thế kỷ X với các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê. Thời Lý - Trần (thế kỷ XI-XIV) đánh dấu sự phát triển về chính trị, luật pháp, hưng thịnh kinh tế và văn hóa. Thời đại này, quân dân Đại Việt có những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống Tống và 3 lần đại thắng quân Mông Nguyên (một đế chế lớn, tàn bạo nhất lúc bấy giờ), khẳng định vị thế là một cường quốc ở khu vực và có tiếng vang lớn trên thế giới.
Đến thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Đại Việt đạt tới đỉnh cao của một nhà nước phong kiến tập quyền, với lãnh thổ mở rộng, luật pháp chặt chẽ, xã hội ổn định, kinh tế - văn hóa phát triển mạnh mẽ. Đại Việt khi đó có ảnh hưởng đáng kể đối với các quốc gia láng giềng, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc quyền lực ở khu vực. Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI – XVIII), tình hình chính trị tuy có phức tạp, nhưng kinh tế, văn hóa tiếp tục phát triển, với sự hưng thịnh của các đô thị như Thăng Long, Phố Hiển ở Đàng Ngoài và các cảng thị Thanh Hà, Hội An ở Đàng Trong. Trong giai đoạn đầu thời Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX), Việt Nam vẫn duy trì được một quốc gia thống nhất, quản lý lãnh thổ rộng lớn từ Bắc chí Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ ở Ai Lao, Chân Lạp, khẳng định vị thế là một dân tộc có năng lực tổ chức và quản trị quốc gia tốt.
Trong thời kỳ hiện đại, Việt Nam đã đánh bại hai cường quốc thực dân, đế quốc sừng sỏ là Pháp và Mỹ, thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần kiên cường và trí tuệ của dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu”, buộc Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược. Đánh bại siêu cường Mỹ đã đưa Việt Nam lên một nấc thang mới – trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Những thắng lợi này này góp phần làm thay đổi cục diện khu vực và thế giới, đẩy nhanh sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Các thắng lợi đó góp phần khắc họa rõ tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam - một dân tộc kiên cường, bất khuất và có khả năng tạo nên những kỳ tích có tác động lớn tới tiến trình lịch sử nhân loại.
Từ tầm vóc đó, đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới cần phải thể hiện rõ bản lĩnh kiên cường, bất khuất, tương xứng lịch sử hào hùng, tinh thần sáng tạo và vươn lên giàu mạnh.
Tầm vóc văn hóa của dân tộc Việt Nam
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam không chỉ tồn tại như một thực thể chính trị - xã hội bền vững mà còn khẳng định là một quốc gia văn minh, có nền văn hiến lâu đời, với các giá trị cốt lõi như tri thức, nhân tài, điển chương, sách vở và hệ thống di tích văn hóa. Truyền thống tôn trọng tri thức, đề cao khoa cử, nhân tài, coi nhân tài là “nguyên khí” của quốc gia trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc. Kho tàng điển chương, sách vở phong phú, bao gồm sử học, văn học, luật pháp… phản ánh trình độ tư duy, năng lực quản trị và ý thức tự chủ văn hóa của dân tộc. Cùng với đó, hệ thống di tích văn hóa - lịch sử trải dài và khá dày đặc trên cả nước phản ánh đời sống tinh thần, trí tuệ, phẩm chất của người Việt Nam. Nền văn hiến lâu đời đã làm nên sức sống lâu dài và vị thế đặc biệt của Việt Nam trong tiến trình văn minh khu vực và thế giới.

Ngọ Môn - Cố đô Huế
Bên cạnh chiều sâu lịch sử, nền văn hóa Việt Nam mang tính độc đáo, giàu bản sắc và sức sống bền bỉ. Bản sắc đó được thể hiện trong hệ giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, nhân ái, khoan dung, cần cù và sáng tạo. Tinh thần đó cũng được thẩm thấu, lan truyền vào các hoạt động đối ngoại, gắn với tư tưởng hòa hiếu, khoan dung, đôi khi có cả sự khiêm nhường trong ứng xử với nước lớn như “bên trong xứng đế, bên ngoài xưng vương”, chủ động làm hòa sau chiến tranh, xung đột, sẵn sàng cấp thuyền, cấp ngựa, cấp lương thực cho những kẻ bại trận mau chóng rút về nước để sớm chấm dứt cảnh binh đao.
Một đặc điểm nổi bật khác khẳng định tầm vóc văn hóa Việt Nam là khả năng dung hợp, tích hợp các giá trị văn hóa khu vực và thế giới. Trong suốt lịch sử, Việt Nam vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nền văn hóa lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, vừa tiếp nhận các yếu tố văn hóa phương Tây trong thời kỳ cận - hiện đại. Tuy nhiên, quá trình tiếp biến này không phải là sao chép y nguyên, mà luôn diễn ra theo hướng chọn lọc, bản địa hóa, tạo nên những hình thái văn hóa mới mang đậm dấu ấn Việt Nam. Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo hay các yếu tố văn hóa Kitô giáo khi du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận, Việt hóa, hòa quyện với tín ngưỡng dân gian, tạo nên một không gian văn hóa đa tầng, linh hoạt và dung hợp.
Tầm vóc văn hóa của dân tộc Việt Nam đã được UNESCO ghi nhận thông qua hệ thống các di sản thế giới phong phú, đa dạng, gồm cả những di sản văn hóa vật chất và phi vật chất, các danh nhân văn hóa... Các di sản văn hóa tiêu biểu như quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ không chỉ phản ánh chiều sâu lịch sử, trình độ sáng tạo và tư duy thẩm mỹ của người Việt.
Bên cạnh di sản vật thể, các di sản văn hóa phi vật thể như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương hay Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tiếp tục khẳng định sức sống của văn hóa Việt Nam trong đời sống đương đại. Đây là minh chứng sinh động cho khả năng bảo tồn, truyền nối và sáng tạo văn hóa của cộng đồng, đồng thời thể hiện sự đa dạng văn hóa trong chỉnh thể thống nhất của quốc gia.
Từ các nội dung trên có thể hiểu, đối ngoại tương xứng với “tầm vóc văn hóa” là đối ngoại phù hợp với một nền văn hóa giàu bản lĩnh, giàu bản sắc; “hòa nhập” nhưng không “hòa tan”, sẵn sàng gác lại quá khứ để phục vụ hiện tại, hướng tới tương lai.
Vị thế của đất nước hiện nay
Vị thế của Việt Nam hiện nay là kết quả tổng hợp của quá trình lịch sử lâu dài, đặc biệt là những thành tựu to lớn của 40 năm Đổi mới toàn diện đất nước. Vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế được thể hiện qua hai khía cạnh chính sau.
Thứ nhất, xét về quy mô và sức mạnh tổng hợp, Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia tầm trung đang lên. Năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; tổng kim ngạch thương mại trên 920 tỷ USD, trong top 15 thế giới. Việt Nam đã chuyển mình từ một nền kinh tế nghèo nàn, khép kín trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở châu Á, từng bước hiện đại và hội nhập sâu rộng với thế giới. Về sức mạnh quân sự, Việt Nam nằm trong top 25 thế giới. Các thứ hạng trên ngày càng được cải thiện qua thời gian, thậm chí từng năm. Mặc dù chưa phải là cường quốc, nhưng Việt Nam có đủ tiềm lực để tự bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời góp phần tích cực vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Vị thế quốc gia “tầm trung” cho phép Việt Nam vừa tránh bị cuốn vào cạnh tranh nước lớn, vừa phát huy vai trò cầu nối, điều hòa lợi ích giữa nhiều quốc gia.
Thứ hai, uy tín chính trị và đối ngoại của Việt Nam ngày càng được củng cố thông qua đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa. Việc tham gia tích cực vào các tổ chức và diễn đàn đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc, giúp Việt Nam không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn góp phần vào việc định hình luật chơi quốc tế, chuyển từ “người tham gia” sang “người kiến tạo” trong một số lĩnh vực, cơ chế hợp tác, tiêu biểu là trong ASEAN. Điều này thể hiện sự trưởng thành về đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam cũng đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021), đồng thời là nước chủ nhà của nhiều sự kiện quốc tế quan trọng. Bên cạnh đó, sự phát triển toàn diện của Việt Nam đã và đang tạo ra một hình ảnh mới, tích cực, trở thành một “tấm gương”, “hình mẫu” về đổi mới phát triển cho nhiều quốc gia khác học tập.
Đối ngoại tương xứng với “vị thế của đất nước” là đối ngoại phù hợp với vị thế ngày càng cao của quốc gia, nguồn lực này càng lớn của đất nước, tức là theo phương châm “chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới” như tinh thần của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
