Sau hơn 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc và lựa chọn Cao Bằng làm địa điểm khởi đầu cho quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quyết định này không mang tính ngẫu nhiên mà là kết quả của sự cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở phân tích thời cơ lịch sử và đánh giá toàn diện các điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế – xã hội của địa phương. Trước thời điểm Người trở về, Cao Bằng đã sớm được thai nghén như một không gian cách mạng an toàn, vững chắc, sẵn sàng trở thành căn cứ địa đầu tiên của cách mạng Việt Nam

Mùa Xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt dấu chân đầu tiên trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Quyết định chiến lược ấy không chỉ mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng cả nước, mà còn gắn kết vận mệnh của Cao Bằng với những bước đi căn bản, mang tính quyết định của lịch sử dân tộc. Từ cội nguồn Pác Bó, dưới sự lãnh đạo của Người, Cao Bằng từng bước trở thành căn cứ địa cách mạng đầu tiên, trung tâm chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, rồi tiếp tục ghi dấu ấn sâu đậm trong các cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước.

Nơi Nguyễn Ái Quốc đã đặt bước chân đầu tiên trở về Tổ quốc là tại cột mốc biên giới số 108 (nay thuộc xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Sự kiện này là kết quả của một quá trình nghiên cứu, cân nhắc và lựa chọn hết sức thận trọng về thời điểm và địa điểm trở về. Với nhãn quan chính trị sắc bén và trên cơ sở phân tích toàn diện các điều kiện lịch sử cụ thể, Nguyễn Ái Quốc đã xác định Cao Bằng là địa bàn phù hợp nhất để xây dựng căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bước vào thời điểm thuận lợi.

Nơi đáp ứng yêu cầu trở thành căn cứ cách mạng đầu tiên

Việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm điểm khởi đầu khi trở về nước năm 1941 thường được nhìn nhận như một quyết định tất yếu. Tuy nhiên, để thấy hết chiều sâu chiến lược của lựa chọn ấy, cần đặt nó trong so sánh với các địa bàn biên giới khác, đặc biệt là Lào Cai – nơi từng được đặt ra như một khả năng.

Chính trong sự so sánh này, tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Ái Quốc được bộc lộ rõ nét. Từ những tư liệu cho thấy, ngay từ tháng 6/1940, Bác đã có dự định về nước lãnh đạo cách mạng qua tuyến đường sắt Côn Minh - Lào Cai, “Bác cũng dự định Bác cùng một số đồng chí đảng viên sẽ về nước bằng đường xe lửa Côn Minh - Lào Cai qua các ga Nghi Lương, Khai Viễn, Bích Sắc, Chỉ Thôn, Hà Khẩu. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình (phụ trách công tác liên lạc của Trung ương Đảng ta với Ban Hải ngoại quốc tế) về Hà Khẩu nắm tình hình trong nước và cơ sở cách mạng vùng Hà Khẩu, Lào Cai”[1] .

Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, ngày 28/01/1941 (Tranh tư liệu lịch sử)

Tuy nhiên, đến cuối tháng 6/1940, tuyến giao thông Côn Minh – Lào Cai bị gián đoạn, khiến phương án trở về nước theo hướng Lào Cai không thể thực hiện. Đây là yếu tố khách quan do bối cảnh chiến tranh, song đồng thời cũng cho thấy sự hợp lý về mặt chiến lược, bởi trên thực tế, Lào Cai không hội tụ đủ các điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng căn cứ cách mạng lâu dài xét trên các phương diện an ninh, phong trào quần chúng và khả năng phát triển lực lượng.

So sánh với Cao Bằng, sự khác biệt mang tính bản chất hiện lên rõ rệt: nếu Lào Cai là địa bàn giao thông mở, bị kiểm soát chặt, thì Cao Bằng là không gian núi rừng hiểm trở, khó tiếp cận; nếu phong trào cách mạng ở Lào Cai còn phân tán, thì Cao Bằng đã có cơ sở Đảng sớm, phong trào quần chúng vững chắc, lòng dân gắn bó với cách mạng.

Việc không chọn Lào Cai vì thế không phải là sự phủ định cảm tính, mà là kết quả của một phép tính chiến lược khoa học, chặt chẽ. Chính quyết định “không chọn” Lào Cai đã làm nổi bật quyết định “chọn Cao Bằng” – một lựa chọn mang tính bước ngoặt, đặt nền móng cho căn cứ địa Việt Bắc và mở đường cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Địa danh hội tụ “địa lợi, nhân hòa” trong tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ

Xét về vị trí địa lý, Cao Bằng có vị trí biên giới và khả năng liên lạc quốc tế thuận lợi. So với các tỉnh biên giới khác, Cao Bằng có đường biên dài, nhiều lối mòn qua lại, dân cư hai bên biên giới có quan hệ thân tộc, buôn bán, qua lại lâu đời. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên lạc, vận chuyển tài liệu, huấn luyện cán bộ, cũng như tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế khi cần thiết.

Một trong những lý do chiến lược đặc biệt quan trọng khiến Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng là vị trí giáp biên với Trung Quốc, nhất là khu vực giáp huyện Tịnh Tây (Quảng Tây) – nơi phong trào yêu nước của người Việt phát triển mạnh ở Trung Quốc, tạo nên một “hậu phương quốc tế” gần gũi, tin cậy.

Với tầm nhìn sắc bén, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ rằng: cách mạng Việt Nam không thể phát triển trong thế cô lập. Việc chọn Cao Bằng giúp Người giữ vững mối liên hệ với phong trào cách mạng thế giới, đồng thời chủ động trước những biến động bất ngờ, phức tạp của tình hình khu vực và thế giới.

Xét về điều kiện tự nhiên, Cao Bằng là tỉnh miền núi cao, địa hình chủ yếu là núi đá vôi hiểm trở, xen kẽ rừng rậm, hang động, sông suối chằng chịt, tạo nên một không gian tự nhiên khó tiếp cận đối với các lực lượng quân sự hiện đại của kẻ thù, nhưng lại thuận lợi cho các hoạt động bí mật, phân tán và linh hoạt của lực lượng cách mạng.

Đối với Nguyễn Ái Quốc, địa hình không chỉ là yếu tố che chắn, mà còn là điều kiện để “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều” – một nguyên lý xuyên suốt trong tư duy quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam. Các vùng như Hà Quảng, Trùng Khánh, Hòa An, …của Cao Bằng cho phép lực lượng cách mạng ẩn náu, di chuyển, liên lạc và tổ chức lực lượng một cách chủ động, trong khi gây khó khăn tối đa cho việc truy quét của địch. Đặc biệt, khu vực Pác Bó – nơi Bác Hồ trực tiếp sống và làm việc trong những ngày đầu về nước là một không gian điển hình cho tư duy chọn địa bàn của Người: kín đáo, khó phát hiện, nhưng không tách rời quần chúng. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa “rừng núi che chở” và “lòng dân nuôi dưỡng” đảm bảo yếu tố cốt lõi của căn cứ địa cách mạng.

Nguyễn Ái Quốc những ngày ở Pác Bó (Tranh tư liệu lịch sử)

Về điều kiện kinh tế, Cao Bằng có khả năng tự túc, tự cung tự cấp – nền tảng cho căn cứ địa cách mạng bền vững. Một căn cứ địa cách mạng muốn tồn tại không thể chỉ dựa vào địa hình hiểm trở hay lòng dân, mà còn phải có khả năng bảo đảm tối thiểu về hậu cần, lương thực.

Trong bối cảnh lực lượng cách mạng còn rất hạn chế, việc dựa vào tiếp tế từ bên ngoài là không khả thi và đầy rủi ro. Cao Bằng, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, tuy còn nghèo nhưng có khả năng bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cơ bản cho cán bộ cách mạng trong giai đoạn đầu. Ruộng nương, rừng núi, nguồn lương thực tại chỗ cùng với sự đùm bọc của nhân dân các dân tộc đã giúp cách mạng “sống được, đứng được và phát triển được” trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Chính tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp sống cuộc sống giản dị, hòa mình với đồng bào, vừa lãnh đạo cách mạng, vừa lao động sản xuất. Điều này không chỉ giải quyết bài toán kinh tế trước mắt, mà còn tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, củng cố niềm tin chính trị – yếu tố vô giá đối với sự phát triển lâu dài của phong trào.

Về điều kiện chính trị, Cao Bằng có phong trào cách mạng phát triển từ rất sớm, có địa hình thuận lợi phát triển phong trào cách mạng về xuôi.

Nguyễn Ái Quốc nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ[2]”.

Nếu địa hình và vị trí biên giới là điều kiện cần, thì phong trào chính trị và cơ sở quần chúng ở Cao Bằng chính là điều kiện đủ để nơi đây trở thành điểm dừng chân đầu tiên của Bác Hồ. Cao Bằng có nền tảng phong trào cách mạng và truyền thống yêu nước đã được hình thành từ sớm.

Ngay từ những năm 1920-1930, Cao Bằng đã là một trong những địa phương sớm tiếp nhận ánh sáng cách mạng, gắn liền với hoạt động tích cực của các nhà yêu nước tiêu biểu như Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, những người có công lớn trong việc truyền bá tư tưởng cách mạng, xây dựng cơ sở và giác ngộ quần chúng.

Sự ra đời của Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Cao Bằng (ngày 01/4/1930) đã đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho việc hình thành đội ngũ cán bộ trung kiên, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Mặc dù trong những năm cuối thập niên 1930, phong trào cách mạng ở Cao Bằng phải đối mặt với sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp, song phong trào không bị dập tắt mà từng bước được khôi phục và phát triển theo chiều sâu, đặc biệt trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhân dân Cao Bằng sớm giác ngộ cách mạng, có truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cao và ý thức bảo vệ cán bộ, sẵn sàng che chở, nuôi dưỡng lực lượng cách mạng. Chính nền tảng chính trị quần chúng vững chắc ấy đã tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm điểm khởi đầu cho sự trở về lịch sử mùa xuân năm 1941.

Bởi những lý do trên, mùa Xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn Cao Bằng là điểm trở về đầu tiên sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài.

Quyết định ấy đã gắn Cao Bằng với những bước đi đầu tiên của quá trình chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng Tháng Tám, để từ đó mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc trở thành “mạch nguồn” nuôi dưỡng và lan tỏa phong trào cách mạng trên phạm vi cả nước.

 

[2] Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 31-32.